1. THÔNG BÁO TUYỂN ADMIN DIỄN ĐÀN 2013
    Tìm kiếm nhà trọ - Ở ghép
    THÔNG BÁO BÁN ÁO SPKT.NET CHO THÀNH VIÊN DIỄN ĐÀN


    HÃY TÌM KIẾM Ở ĐÂY TRƯỚC KHI ĐẶT CÂU HỎI
    {xen:phrase loading}

Brokeback Mountain

Thảo luận trong 'TRUYỆN' bắt đầu bởi truongthinhs, 27 Tháng chín 2006.

  1. truongthinhs Giảng Viên

    Số bài viết: 533
    Đã được thích: 3
    Điểm thành tích: 0
    Brokeback Mountain
    Chuyện về hai chàng cao bồi trên ngọn núi Brokeback


    [IMG]
    Tác giả Annie Proulx
    Người dịch:patmol Black- Vũ Huy Lân


    Ennis del Mar tỉnh giấc trước năm giờ sáng. Gió lắc mạnh chiếc xe hàng, kêu gào vòng quanh cánh cửa sắt và những khung cửa sổ. Mấy cái áo sơ mi máng trên cây đinh khẽ lung lay. Gã đứng dậy, đưa tay gãi gãi phần bụng giờ đã ngả xám với mớ lông trên ấy, lê bước tới bên bếp gas, đổ phần cà phê còn dư vào cái chảo mẻ bằng men; ngọn lửa xanh chực quấn lấy nó. Gã bật vòi nước, tiểu vào bồn cầu, mặc vô người áo sơ mi cùng quần jean, đôi giày da cũ mèm, vừa gõ gõ đế giày xuống sàn nhà đặng xỏ chúng vào. Gió thổi ào, ép qua bề dài xe, và trên lối đi gầm rú của nó, gã có thể nghe được tiếng cát sỏi ma sát. Chiếc xe chở ngựa mà ra ngoài đường cao tốc giờ này chắc sẽ không ổn. Gã phải thu dọn đồ đạc rời khỏi nơi đây nội sáng hôm nay. Trang trại được đem ra rao bán, người ta đã gửi đi cả con ngựa cuối cùng, trả hết lương cho mọi người từ ngày hôm trước; ông chủ bảo, "Trao chúng cho lũ cá mập địa ốc dùm, tôi chuồn đây" khi thả chùm chìa khoá vào tay Ennis. Coi bộ gã phải tá túc nhờ nhà đứa con gái đã lấy chồng cho đến lúc tìm được một công việc khác. Đành thế, tâm trí gã vẫn ngập tràn cảm giác khoan khoái bởi gã vừa gặp được Jack Twist trong mơ.

    Chảo cà phê bốc mùi ôi thiu đang bắt đầu sôi lên, nhưng gã kịp thời bắc nó xuống trước khi nó trào ra bên ngoài. Gã đổ nó vô cái tách hoen ố rồi thổi lên trên bề mặt thứ dung dịch đen xì, để cho cơn mộng mị trôi đi. Nếu gã không cố sức tập trung, e nó sẽ đun nóng mọi thứ, sưởi ấm lại cái thời xa xăm, lạnh lẽo, trên núi cao, khi họ từng sở hữu cả thế gian này và với họ, không có gì là sai cả. Gió quất vào xe như đống đất bụi tuôn xuống từ xe rác. Gió lặng đi, chết hẳn, bỏ lại một sự im lặng thoáng chốc.

    ~*~

    Họ được nuôi dưỡng trên những trang trại nhỏ, nghèo, ở hai góc đối nhau của tiểu bang; Jack Twist thì ở Lightning Flat, tận bờ Montana, Ennis del Mar thì từ vùng phụ cận Sage, gần đường biên giới với Utah, cả hai đều là những cậu trai đồng quê bỏ học phổ thông chẳng chút triển vọng, gia cảnh vất vả, túng thiếu; hai người, với lối cư xử thô lỗ, cung cách nói năng cộc lốc, đều đã quen với cuộc sống khắc khổ. Ennis được anh với chị lớn cưu mang sau khi cha mẹ chúng lái xe trật khỏi ngã quẹo duy nhất trên tuyến đường Dead Horse Road, bỏ lại chúng với vỏn vẹn hai mươi bốn đôla cùng cái trang trại đang trả góp cho tận hai chỗ. Ở tuổi mười bốn, gã điền đơn xin được cấp bằng lái xe tạm trong giai đoạn khó khăn, nhờ thế gã mới được phép lái những chuyến xe dài hàng giờ đồng hồ từ trang trại tới trường. Chiếc xe tải cũ rích, không máy sưởi, chỉ độc mỗi một thanh gạt nước và bánh xe dởm đời; lúc máy phát thanh trên xe bị hư, gã không có tiền sửa nó. Gã từng muốn lên lớp mười một, cảm thấy cái từ ấy như mang chút ý nghĩa danh dự gì đấy, nhưng rồi chiếc vận tải đâm hỏng, quẳng gã thẳng vào công việc lam lũ nơi trang trại.

    Năm 1963, khi gã gặp Jack Twist, Ennis đã có hôn ước với Alma Beers. Cả Jack lẫn Ennis cùng khai là muốn kiếm chút đỉnh dằn túi; trong trường hợp của Ennis điều đó ám chỉ lon thuốc rê với hai tờ giấy năm đồng bên trong. Mùa xuân năm ấy, thèm khát công việc, cả hai đã đăng ký ở Việc làm cho trang trại và nông trang- Họ ghi danh cùng một lúc cho vị trí người chăn gia súc và quản trại ở cùng một phi vụ chăn cừu phía Bắc Signal. Trang trại mùa hè nằm trên các rặng cây, tại vùng đất Forest Service, trên ngọn Brokeback Mountain. Đây sẽ là mùa hè trên núi thứ nhì với Jack, mùa đầu tiên với Ennis. Chưa người nào đến tuổi đôi mươi.

    Họ bắt tay nhau trên chiếc xe dùng làm văn phòng ngột ngạt, ngay trước cái bàn làm việc bừa bộn giấy tờ với chữ viết nguệch ngoạc và cái gạt tàn chứa đầy những mẩu vụn thuốc lá. Khung cửa sổ lá sách nghiêng nghiêng để lọt vùng ánh sáng trắng hình tam giác. Hình bóng bàn tay lão đốc công di chuyển vào bên trong vùng sáng ấy. Joe Aguirre, với mái tóc bồng bềnh màu bụi thuốc, rẽ đường ngôi ở chính giữa, nói cho bọn họ biết quan điểm của lão.

    "Forest Service có những bãi cắm trên các vùng đất công. Trại có thể cách nơi thả cừu chừng một vài dặm đường. Lũ cừu thường bị thú hoang ăn mất nhiều vì chẳng ma nào ở gần canh chừng chúng ban đêm cả. Cái tao cần, là thằng quản trại trụ tại trại chính, còn thằng ĐI CHĂN"- lão quạt tay về phía Jack- "căng một cái lều con trên đồng cỏ với bầy cừu, ngoài tầm quan sát, và sẽ NGỦ tại đấy. Ăn bữa tối với bữa sáng ở trại, nhưng NGỦ VỚI CỪU, một trăm phần trăm, KHÔNG ĐƯỢC ĐỐT LỬA, không để lại dấu tích gì hết. Cuốn lều lại mỗi buổi sáng phòng trường hợp bọn kiểm lâm Forest Service rình rập. Mang lũ chó và khẩu -30.30 ra ngoài đó luôn. Hè năm ngoái tổn thất mẹ nó gần hai mươi lăm phần trăm. Tao chẳng muốn vậy nữa, CÒN MÀY", lão vừa bảo Ennis vừa tiếp nhận hình ảnh một gã đầu tóc rối bờm xờm, đôi bàn tay to nứt nẻ, sần sùi, ống quần jean rách beng còn áo sơ mi thì đứt nút. "Mừơi hai giờ trưa mỗi thứ sáu đi xuống chỗ cây cầu với mấy con la cùng danh sách những thứ cần thiết cho tuần tới. Một đứa mang theo tiếp tế sẽ tới đó trên chiếc xe hàng". Lão chẳng buồn hỏi thăm xem liệu Ennis có đeo đồng hồ hay không, chỉ lấy ra cái đồng hồ rẻ tiền hình tròn có gắn dây, phủi đi lớp bụi bẩn, vặn chỉnh nó rồi ném cho gã cứ như thể gã không đáng để lão với người đưa. "SÁNG MAI tụi tao sẽ tải mấy đứa bây tới nơi khởi hành". Hai con người vận rủi chẳng biết đi đâu.

    [IMG]

    Họ lần ra một quán rượu rồi ngồi uống bia suốt buổi chiều. Jack kể với Ennis về cơn giông sấm chớp trên núi hồi năm trước đã giết chết bốn mươi hai con cừu, về cái mùi hôi khó ngửi đặc trưng của lũ súc ấy, về cái cách chúng nó ăn no đến cành hông, về chuyện cần phải có nhiều rượu whiskey trên trển. Hắn từng bắn hạ một con chim ưng, hắn bảo, rồi xoay đầu chỉ cho gã thấy cái lông đuôi đính trên vành nón. Thoạt nhìn, Jack trông cũng tàm tạm, tóc hắn quăn và hắn hay cười; nhưng với một người nhỏ con thì bắp đùi hắn phần nào bị dư ký, nụ cười trên môi hắn để hở mấy chiếc răng cửa bị hô, dù không rõ rệt đến độ có thể giúp hắn cạp bắp rang từ cổ chai bia, nhưng cũng dễ nhận ra. Hắn mê như điếu đổ cái kiểu sống bằng những cuộc đua tài trên lưng bò của các anh chàng cao bồi; khoá thắt lưng hắn mang hình bò mộng. Đôi giày da hắn mang rách tơi, lủng lỗ tới mức không còn cách chi cứu vãn, mà hắn thì cực kỳ phấn chấn khi được đến một nơi nào đó, bất kì nơi nào ngoại trừ Lightning Flat.

    Ennis, sống mũi cong, cao, gương mặt gầy, thì lôi thôi, bẩn thỉu. Lồng ngực gã hơi lõm, cặp chân dài mang dạng chân cây compa. Người gã vạm vỡ như chỉ dành riêng cho việc cưỡi ngựa hay đánh lộn. Khả năng phản xạ lại nhạy bén bất thường. Mắt gã bị viễn thị đủ nặng để gã viện lí do không thích đọc gì hết ngoài mấy quyển catalog về yên ngựa thuộc hãng Hamley.

    Xe chở cừu và ngựa đổ chúng xuống tại bến dừng. Tên Basque chân-vòng-kiềng chỉ Ennis thấy cách thức chất hàng lên đám la, rồi bảo với gã "Đừng bao giờ gọi món súp. Mấy hộp đựng súp cực kỳ khó chở". Ba con chó con- con mẹ nằm trong số đám chó chăn cừu- được cho vào một cái rổ đặt trên lưng la, con còi cọc nhất thì ở trong áo khoác của Jack, bởi hắn yêu thích chó con. Ennis lựa ra cho mình con ngựa màu hạt dẻ tên Cigar Butt để cưỡi, còn con của Jack có màu đỏ hung, thuộc loại dễ giở chứng. Đám ngựa dự phòng bao gồm luôn cả con màu xám lông chuột mà Ennis khoái. Ennis với Jack, lũ chó, ngựa và la, hàng ngàn những con cừu lẫn đực lẫn cái tiến lên sườn núi như nước dơ chảy ra từ gỗ, vượt lên trên các tầng cây, lạc vào những thảm cỏ nở hoa và những luồng gió thổi liên tu bất tận.

    [IMG]

    Họ dựng lều lớn trên nền đất Forest Service, bếp núc và các thùng chứa đồ ăn được bảo quản an toàn. Cả hai thằng ngủ lại ở trại đêm đầu tiên, Jack luôn miệng rủa xả cái mệnh lệnh ngủ-chung-với-cừu-mà-không-được-đốt-lửa của lão Joe Aguirre. Dù vậy, lúc hắn cưỡi con ngựa hung ra đi trong buổi sáng mịt mù lại chẳng thấy hắn ca cẩm nhiều. Rạng đông đến mang sắc cam thuỷ tinh, úa màu từ phía bên dưới bởi dãy cỏ xanh nhợt nhạt. Khối núi đen như bồ hóng lợt dần cho đến khi nó có cùng một màu với đám khói xám toả ra từ đống lửa Ennis nhóm cho bữa sáng. Không khí lạnh lẽo như dịu xuống, bãi đá, cuội phản chiếu những bóng đen bất chợt và những cây thông chỏm nhọn như không ngừng vươn lên tụ lại với nhau thành nhiều mảng xanh lá cây sậm, ảm đạm.

    Ban ngày, Ennis dõi mắt qua bờ bên kia cái vực thẳm sâu hoắm, thỉnh thoảng trông thấy Jack, một điểm nhỏ nhoi băng ngang thảo nguyên rộng lớn như con côn trùng bé tí bò ngang tấm thảm trải bàn; Jack, từ chỗ hắn cắm lều buổi tối, nhìn Ennis như ngọn lửa đêm, một đốm sáng lấp láy trên tảng núi đen kịch.

    ~*~

    Vào một buổi chiều tà, Jack lê thân đến trại khá muộn. Hắn tu hết hai lon bia hắn để ướp lạnh trong cái bịch treo phía bóng râm cạnh lều, xực hai tô thịt hầm, bốn miếng bánh quy cứng như đá của Ennis, một lon trái đào. Hắn cuốn điếu thuốc rê, ngồi ngắm mặt trời lặn.

    "Hiện mỗi ngày tao phải đi đi lại lại những bốn tiếng đồng hồ," Hắn rầu rĩ. "Tới đây ăn sáng, quay lại chỗ lũ cừu, xế chiều thì thu xếp nơi cho chúng ngủ, đi ăn tối, rồi lại trở về với chúng, hơn phân nửa buổi tối phải nhảy dựng người dậy hết lần này tới lần khác đặng canh tụi chó rừng. Theo luật đáng lý tao được ngủ qua đêm ở đây. Lão Aguirre chẳng có quyền quái gì bắt tao làm thế này cả".

    "Mày muốn đổi chỗ không?" Ennis bảo. "Tao không ngại chăn cừu. Tao cũng chẳng ngại ngủ ngoài đấy".

    "Đó không phải là vấn đề. Vấn đề là, cả hai đứa mình lẽ ra phải được ở lại trại. Mẹ, mà cái lều quỷ sứ hôi rình như nước đái mèo hay có khi còn tệ hơn nữa".

    "Tao không ngại chạy ra đằng ấy"

    "Nói mày nghe, mày phải thức giấc giữa đêm khuya chừng vài chục lần để xua lũ chó rừng. Rất vui nếu được đổi với mày nhưng cần báo trước là tao không nấu nướng được cái cóc khô gì đâu, có mỗi tài khui đồ hộp thôi"

    "Vậy thì cũng chẳng tệ hơn tao là mấy. Thôi được rồi, tao không ngại công chuyện đó".

    [IMG]

    Họ cầm cự với bóng đêm được chừng một tiếng nhờ cây đèn xăng màu vàng. Khoảng mười giờ tối, Ennis cưỡi con Cigar Butt- con ngựa đi đêm tốt- xuyên qua màn sương giá chập chờn, về chỗ bầy cừu. Gã mang theo phần bánh quy thừa, hũ mứt với hũ càfé bên mình dự trù cho hôm kế, miệng bảo sẽ tiết kiệm được một chuyến đi, sống sót ở ngoài ấy cho đến giờ ăn khuya.

    "Sớm tinh mơ đã bắn được một con chó rừng," Gã khoe với Jack xế chiều ngày hôm sau, khi gã vẩy nước nóng tung toé lên trên mặt, rồi xoa lên ấy bọt xà phòng, hy vọng dao cạo râu gã vẫn còn chút lưỡi sót lại trong đó, phần Jack thì lo gọt vỏ khoai tây. "Con khốn bự kinh khủng khiếp.Dái to như quả táo. Tao đoán chắc nó ngốn mất của mình vài con cừu rồi. Ngữ như nó dám ăn được nguyên con lạc đà cơ. Mày có muốn chút nước nóng này không? Còn nhiều lắm".

    "Cho mày hết đấy"

    "Ừ, vậy tao sẽ rửa ráy mọi nơi tao với tới được". Gã nói, gỡ giày với cởi quần jean ra (Jack phát hiện gã không vận quần lót hay mang vớ), rồi quấn cái khăn mặt màu xanh đi lòng vòng đến tận lúc lửa cháy bập bùng.

    Họ dùng bữa cạnh đống lửa, mỗi người một lon đậu cộng mớ khoai chiên. Hai thằng chia nhau khoảng một lít whiskey, cùng ngồi tựa lưng trên khúc củi, chuyền tay nhau chai rượu mạnh giữa lúc bầu trời đỏ nhạt phai màu dần và không khí lạnh khẽ buông xuống. Họ uống rượu, hút thuốc, thi thoảng đứng dậy đi tiểu. Ánh sáng từ ngọn lửa hắt lên dòng nước chảy cong vòng cung. Họ quăng thêm gỗ vào lửa, cố câu thêm giờ cho cuộc chuyện trò. Họ tán gẫu với nhau về mấy con ngựa, các màn biểu diễn trên lưng bò, những khi cơ hàn, số lần bị tai nạn hay thương tích từng trải, vụ tàu ngầm Thresher mất tích cùng toàn bộ thuỷ thủ đoàn cách đó hai tháng , nghĩ xem nó ra sao ở những giây phút tiêu tùng cuối cùng, hết thảy các con chó họ từng nuôi hoặc biết, lệnh gọi nhập ngũ, về trang trại gia đình Jack nơi cha với mẹ hắn tần tảo, việc nhà Ennis bị thu hồi nhiều năm trước sau khi cha mẹ gã chết, ông anh lớn ngụ tại Signal còn bà chị đã kết hôn thì ở Casper. Jack kể rằng cha hắn cách đây nhiều năm từng là dân cưỡi bò rất nổi danh nhưng lại ôm khư khư mọi bí mật nghề nghiệp cho riêng lão, chẳng bao giờ khuyên bảo Jack lời nào, cũng không chịu đến xem Jack trổ tài lấy một lần, mặc dù hồi hắn còn bé, lão đã từng đích thân đặt hắn lên lưng bò. Ennis bảo cái kiểu cưỡi mà khiến gã quan tâm phải kéo dài hơn tám giây và mang chút mục đích gì đó. Tiền cũng là một mục đích chính đáng, Jack nói, và Ennis phải tán thành. Họ tôn trọng ý kiến lẫn nhau, mỗi người đều mừng khi có được bạn đồng hành thay vì chịu cảnh đơn độc theo dự kiến. Lúc Ennis dong ngựa ngược chiều gió về với bầy cừu trong thứ ánh sáng le lói và say mèm, gã tự nhủ thầm trứơc nay gã chưa từng vui đến thế, cảm thấy như gã có thể chạm được tay vào cái màu trắng ánh trăng.

    Mùa hè vẫn trôi, họ chuyển bầy gia súc sang khu cỏ khác, dời luôn cả trại; khoảng cách giữa cừu với bãi cắm mới lớn hơn và hành trình ban đêm cũng lâu hơn. Ennis cưỡi ngựa thong thả, nằm ngủ với đôi mắt mở thao láo, nhưng những giờ ở xa đàn cừu, gã không ngừng co duỗi chân tay. Jack thổi ra thứ âm thanh inh ỏi từ cây khẩu cầm- sau khi bị bẽ mặt đôi chút bởi cú ngã khỏi lưng con ngựa hung bất kham- còn Ennis thì có chất giọng the thé kha khá; vài hôm, họ mò mẫm hát hò nhăng nhít được một số bài. Ennis biết lời nhạc mặn mà trong bài "Bụi dâu lang". Jack thử bài hát của Carl Perkins, réo ỏm tỏi câu "Điều tôi nói-ói-ói", nhưng lại thích nhất bài thánh ca buồn, "Jesus đi trên nước", học được từ người mẹ tin vào Lễ Chúa và Thánh thần giáng trần. Hắn hát bài này bằng điệu chậm buồn ai oán, dập tắt cả tiếng lũ chó rừng kêu vọng lại từ xa.

    "Quá trễ để chạy ra chỗ lũ cừu chết tiệt rồi", Ennis bảo, lừ đừ và say bí tỉ, bò lồm cồm bằng cả tay lẫn chân, vào một đêm lạnh giá, khi mặt trăng đã điểm quá hai giờ sáng. Các phiến đá trên thảm cỏ phát ra ánh sáng trắng xanh. Ngọn gió tinh ác vờn quanh làm hạ lửa, sau đó lại thổi nó táp vào mấy tấm khăn quấn bụng bằng lụa vàng. "Có dư cái mền nào, tao sẽ trải ra ngoài đây, chợp mắt chút, hừng đông sẽ đi ngay"

    "Nó lạnh teo mông mày luôn một khi lửa tắt. Tốt hơn hết là nên nằm trong lều"

    "Không nghĩ tao sẽ thấy lạnh". Tuy nhiên, gã cũng bước loạng choạng vô lều, cởi phăng đôi giày da, ngái khò trên đống quần áo trải dưới đất, đánh thức Jack dậy bằng tiếng răng hàm gã va vào nhau kêu lập cập.

    "Lạy Chúa, đừng có ồn ào nữa mà chui qua đây cái coi. Túi ngủ đủ to mà". Jack kêu với giọng ngái ngủ bực bội. Quả là nó đủ rộng rãi, đủ ấm áp. Chỉ trong giây lát, quan hệ tình cảm giữa họ thăng tiến một cách đáng kể. Ennis luôn chạy hết tốc lực trên mọi nẻo đừơng, dù là vá rào hay tiêu tiền, thế nên gã không muốn tí nào khi bị Jack nắm lấy bàn tay trái, đưa nó tới dương vật hắn đang cương cứng. Ennis rụt tay lại ngay như vừa chạm phải lửa, gã quỳ gối lên, cởi thắt lưng, tuột quần xuống, đẩy Jack vào tư thế bò bốn chân, rồi, với sự hỗ trợ của vệt dầu hôi và chút nước bọt, gã thâm nhập vào cơ thể hắn. Chưa có gì là gã đã từng làm qua cả, mặc dù vậy, gã cũng chẳng cần đến quyển sách hướng dẫn nào. Họ nhập cuộc trong im lặng, chỉ trừ vài tiếng hít thở đứt quãng, gấp gáp và cái câu Jack nói, "Súng sắp khai hỏa", nghe như mắc nghẹn. Họ kiệt sức, lăn đùng, và ngủ say.

    Ennis tỉnh dậy trong sắc bình minh đỏ ửng, với cái quần dài kéo xuống tận đầu gối cùng cơn nhức đầu hạng nặng, còn thằng Jack thì cọ đầu vô người gã; không nói không rằng gì về chuyện ấy, hai người bọn họ đều biết, rằng nó sẽ tiếp diễn suốt những ngày hè còn lại, thây kệ cha lũ cừu.

    Và thật vậy, họ đã chẳng khi nào đề cập đến tình dục, cứ để yên cho nó tự xảy ra, ban đầu chỉ ở trong lều vào ban đêm, rồi sau đó là giữa ánh sáng ban ngày chói chang, với mặt trời nóng nực toả nắng, và xế chiều, trong ánh lửa trại. Nó nhanh và thô, họ cười ha hả, cười khọt khẹt, không hề thiếu tiếng động, nhưng lại chẳng nói lời nào, duy chỉ một lần Ennis bảo, "Tao không phải bóng", còn Jack cũng nhảy xổ vô với "Tao cũng không. Chuyện nhất thời thôi. Chẳng liên can tới ai, riêng giữa tụi mình". Chỉ có hai người họ trên núi cao, phiêu bồng trong âm hưởng không khí vui phơi phới nhưng lạnh buốt thấu xương tuỷ. Họ nhìn xuống lưng con chim diều hâu đang sải cánh bay, những ánh đèn xe lúc nhúc trên các cánh đồng phía dưới. Họ như tách biệt với mọi công việc tầm thường, biệt lập với tiếng lũ chó trang trại tru mỗi khi trời tối. Họ tin mình vô hình nhưng lại đâu ngờ rằng, vào một ngày, lão Joe Aguirre đã quan sát họ qua cái ống nhòm 10x42 hết gần mười phút, kiên nhẫn chờ tới lúc họ cài lại nút quần jean, đợi đến khi Ennis về lại chỗ bầy cừu, trước khi đưa tin rằng người nhà Jack nhắn là ông cậu Harold của hắn đang phải nhập viện với chứng viêm phổi, nhắm chừng sẽ không qua khỏi. Rốt cuộc rồi ông ta cũng sống, và Aguirre lại phải lên núi báo tin. Lão chỉ liếc Jack bằng mắt nhìn hung tợn, chẳng màng tới chuyện bước xuống yên ngựa.

    Tháng tám, Ennis bắt đầu ngủ lại nguyên đêm với Jack tại khu trại chính. Trong một cơn lốc bão bùng, đàn cừu bỏ sang hướng Tây, nhập vào một bầy thuộc bãi đất canh khác. Suốt năm ngày trời ròng rã, khổ sở, Ennis và gã chăn cừu người Chilê không biết lấy một chữ tiếng Anh bẻ làm đôi gắng hết sức tách chúng ra; cái nhiệm vụ hầu như bất khả thi bởi lớp sơn đánh dấu vào thời điểm cuối mùa như thế này đã tróc và phai đi nhiều. Ngay cả khi số lượng cừu được thu hồi đầy đủ, Ennis vẫn biết chúng cũng đã bị xáo trộn. Xét theo khía cạnh đáng lo ngại nào đó, thì mọi thứ phải chăng đều đã bị xáo trộn.

    Mưa tuyết tới sớm, vào ngày mười ba tháng tám. Tuyết đóng thành lớp, dày cả tấc, nhưng liền sau đó lại tan đi rất nhanh. Tuần lễ kế, Joe Aguirre lệnh họ cho mang cừu xuống- một cơn bão khác, dữ dội hơn đang tiến vô đất liền từ Thái Bình Dương. Họ thu dọn hành trang xuống núi với lũ súc vật. Đá cuội lăn long lóc dưới chân, những cụm mây tím thẫm cuồn cuộn bay vào từ phía Tây cộng thêm cái mùi kim loại của đợt mưa tuyết chuẩn bị kéo đến thúc họ đi nhanh hơn. Ngọn núi sùng sục kiểu năng lượng quỷ quái, mờ hẳn đi bởi thứ ánh sáng bập bùng xuyên qua đám mây mù, gió lướt trên cỏ, hợp với các khe đá phát ra những tiếng ù ù thịnh nộ. Trên chặng dường xuống dốc, Ennis có cảm tưởng như gã đang trong cảnh chiếu chậm của một cú ngã đâm đầu xuống đất mà không tài nào thay đổi được.

    Joe Aguirre trả lương cho họ, chẳng nói gì nhiều. Lão đưa mắt nhìn bầy cừu với nét mặt chua chát, bảo, "Vài con trong này chưa từng theo tụi bây lên núi". Số lượng thống kê cũng không được như lão mong đợi. Cái lũ chết rồi thì làm nên trò trống gì.

    "Mày làm tiếp hè tới chứ?" Jack hỏi Ennis trên con lộ, khi một chân hắn đã đặt vào bên trong chiếc xe vận tải nhỏ. Gió mạnh lên đột ngột, gắt, và lạnh.

    "Chắc là không". Có cọng lông chim bị thổi bốc lên không trung, bỡn cợt cùng cát bụi, gã nheo mắt nhìn nó. "Như tao đã nói, Alma và tao làm đám cưới tháng mười hai. Sẽ ráng tìm công việc nào đấy ở trang trại. Mày thì sao?" Gã tránh không nhìn thẳng vô cái quai hàm thâm màu tím xanh của Jack, dấu vết từ cú đấm gã tung vào mặt hắn vào cái ngày cuối cùng.

    "Nếu chẳng có gì khá hơn để làm. Từng nghĩ sẽ quay trở về chỗ ông già tao phụ ổng hết mùa đông, sau đó có lẽ chạy sang Texas vào mùa xuân. Nếu không bị bắt phải nhập ngũ".

    "Tốt, vậy, hẹn ngày gặp lại, tao đoán thế" Gió cuộn cái bao ni lông lăn long lóc dưới đường cho đến khi nó chui tọt vô gầm xe gã.

    "Ừ," Jack đáp. Họ bắt tay từ biệt, vỗ bả vai nhau, rồi khi giữa họ là bốn chục gang khoảng cách, chẳng còn gì khác ngoài việc lái xe đi theo hai hướng ngược chiều nhau. Chưa được một dặm, Ennis thấy như ai đó đang dùng hai tay moi ruột gan gã ra, liên tiếp từng đợt, mỗi đợt dài cả thước. Gã tấp xe bên lề đường và, trong mớ bụi tuyết xoay tròn, gã cố ói, nhưng chẳng nôn ra được gì. Tâm trạng gã chán chường, buồn bực như chưa bao giờ thấy chán hay buồn được như vậy, mà phải mất một thời gian thật lâu, cái cảm giác khó chịu ấy mới dần biến mất.

    ~*~

    Tháng mười hai, Ennis cưới Alma. Đến giữa tháng giêng, gã làm cô mang bầu. Gã lượm mót được vài công việc trang trại ngắn hạn, rồi cố định với nghề nuôi ngựa tại trại Elwood Hi-Top lâu đời nằm ở phía Bắc Lost Cabin thuộc quận Washakie. Gã vẫn còn làm ở đấy hồi tháng chín, lúc Alma con, cách gã gọi cô con gái đầu lòng, được hạ sinh. Phòng ngủ hai vợ chồng đầy mùi máu cũ, sữa và phân trẻ em, cả tiếng khóc ré, tiếng nút sữa, tiếng Alma rên rỉ trong cơn buồn ngủ, tất cả như khẳng định năng lực sinh sản bình thường cũng như cuộc sống đang tiếp diễn của một con người ban ngày làm việc quần quật với lũ gia súc.

    [IMG]

    Khi Hi-Top đóng cửa, họ chuyển nhà sang căn hộ nhỏ tại Riverton, bên trên tiệm giặt đồ. Gã gia nhập đội lái xe chở hàng trên quốc lộ, công việc tạm bợ, nhưng làm thêm những ngày cuối tuần ở Rafter B, đổi chác với việc gã để mấy con ngựa của gã tại đấy. Cháu gái thứ nhì ra đời. Alma muốn họ ở lại thị trấn, gần bệnh xá, vì đứa trẻ mới sinh thường ho khục khặc như bị suyễn.

    "Ennis, làm ơn, chúng mình đừng tới những trang trại hẻo lánh khỉ gió nữa," Cô ngồi trên đùi chồng, vòng đôi cánh tay mảnh khảnh nhiều tàn nhang quanh người gã. "Mình kiếm việc ở đây đi hen?"

    "Chắc vậy," Ennis trả lời. Luồn bàn tay vào phía trong cánh tay áo cô, gã quấy mớ lông nách mướt mịn. Đặt cô nằm ngửa trên giường, gã lần các ngón tay lên các đốt xương sườn cô, mò tới chỗ bộ ngực săng chắc, vòng qua vùng bụng tròn trịa, xuống đến đầu gối, tiến thẳng lên cái rãnh ẩm ướt rồi chạy một mạch tới cực Bắc (hay đường xích đạo, tuỳ vào nơi bạn nhắm mình đang căng buồm tới). Gã mân mê nó cho đến khi cô rùng mình sung sướng và oằn cả lưng lên, rồi gã lật sấp người cô lại, làm nhanh gọn cái điều cô căm ghét. Họ quyết định ở lại căn hộ chật hẹp, nơi gã chuộng, vì họ muốn dọn đi lúc nào cũng được.

    CÁC BẠN CÓ THỂ ĐỌC TIẾP TRUYỆN BẰNG TIẾNG ANH Ở PHẦN NGOẠI NGỮ [IMG]
  2. truongthinhs Giảng Viên

    Số bài viết: 533
    Đã được thích: 3
    Điểm thành tích: 0
    Mời các bạn dịch tiếp phần sau. Phần tiếng Anh đã được post ở chuyên mục Ngoại ngữ. các bạn dịch để luyện thêm tiếng anh của mình đi, một công 3 chuyện vừa thưởng thức được câu chuyên hay và cải thiện trình độ tiếng anh đồng thời chia sẻ phần dịch của mình cho các bạn trên 4rum

Chia sẻ trang này