1. THÔNG BÁO TUYỂN ADMIN DIỄN ĐÀN 2013
    Tìm kiếm nhà trọ - Ở ghép
    THÔNG BÁO BÁN ÁO SPKT.NET CHO THÀNH VIÊN DIỄN ĐÀN


    HÃY TÌM KIẾM Ở ĐÂY TRƯỚC KHI ĐẶT CÂU HỎI
    {xen:phrase loading}

Các bác ơi giúp em trả lời câu hỏi với

Thảo luận trong 'Mạng máy tính-Viễn thông' bắt đầu bởi cau2.online, 1 Tháng mười hai 2010.

  1. cau2.online New Member

    Số bài viết: 12
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Có bác nào biết trả lời hộ em câu hỏi này với, cô ra đề Ktra mà hok có tìm đc : "Chứng minh tần số là tài nguyên quan trọng bậc nhất của thông tin "#:-S#:-SThanks các bác
  2. nhutminhho New Member

    Số bài viết: 15
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Tài nguyên viễn thông đặc biệt các băng tần vô tuyến là rất hữu hạn, nhưng lâu nay được cấp theo nguyên tắc ai đến trước cấp trước, ai đến sau nếu còn thì cấp. Cơ chế này dẫn đến tình trạng người có năng lực thì không còn tài nguyên để triển khai, trong khi người được cấp thì triển khai chậm hoặc triển khai không có hiệu quả. Vấn đề thương quyền khai thác đối với tài nguyên viễn thông chậm được nghiên cứu áp dụng. Phí tần số và kho số chưa phản ánh kịp sự thay đổi về chính sách viễn thông trong môi trường cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế. Khi gia nhập WTO, ngành Viễn thông Việt Nam có những cơ hội mới vô cùng to lớn, đồng thời cũng đứng trước những thách thức mới không nhỏ, xuất phát từ các đặc điểm và xu hướng chung sau đây:
    Một là , quá trình toàn cầu hoá sẽ làm thay đổi bức tranh của thị trường viễn thông thế giới. Cam kết của các nước trong WTO và việc ra đời các công nghệ mới (Internet, di động vệ tinh v.v) đã làm mờ đi ranh giới địa lý của các quốc gia và buộc các nước phải mở cửa thị trường viễn thông của mình thông qua việc các nhà khai thác nước ngoài cung cấp dịch vụ qua biên giới (mode 1) và liên doanh (JV) hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) với các đối tác trong nước (mode 2) để cung cấp dịch vụ trực tiếp bên trong lãnh thổ quốc gia.

    Hai là, quá trình tự do hoá, mở cửa thị trường, cạnh tranh giữa các DN trong lĩnh vực viễn thông đang diễn ra ngày càng quyết liệt, đặc biệt là tại các địa bàn thành phố đông dân cư, nơi dễ đầu tư và dân cư có thu nhập cao, dẫn đến giá cước và doanh thu trung bình trên một thuê bao liên tục giảm. Trong khi ở vùng sâu, vùng xa thường chỉ có một, hai DN nhà nước chủ lực đầu tư tham gia cung cấp dịch vụ để thực hiện nhiệm vụ công ích và góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng.

    Ba là, sự hội tụ công nghệ và dịch vụ giữa viễn thông, quảng bá và tin học, giữa các dịch vụ cố định và di động đã đặt các cơ quan quản lý nhà nước và các DN trước những cơ hội và thách thức mới. Sự hội tụ này cho phép trên nền tảng của một hạ tầng mạng lưới thống nhất, hoặc trên một băng tần số xác định người ta có thể cung cấp tất cả các dịch vụ từ cố định đến di động, từ tiếng nói đến số liệu, hình ảnh, từ viễn thông đến phát thanh, tuyền hình. Trong khi đó các quy định quản lý của nhà nước về viễn thông và việc tổ chức SXKD viễn thông của các DN lại đang được triển khai thực hiện trên cơ sở phân chia theo loại hình dịch vụ hoặc công nghệ cụ thể
    Để bảo đảm hội nhập thành công, trên cơ sở đánh giá hiện trạng, phân tích các đặc điểm và xu hướng đang diễn ra, chúng ta cần xây dựng và vận dụng sáng tạo chính sách trong lĩnh vực viễn thông để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức nhằm thực hiện thắng lợi “chiến lược cất cánh” đưa viễn thông Việt Nam ngang tầm với các nước phát triển vào năm 2020. Trong bối cảnh đó, một số vấn đề chính sách sau đây cần được đặc biệt quan tâm:
    Thứ nhất, về chính sách cấp phép từ nay cho đến khi ban hành Luật Viễn thông mới không nên mở rộng thêm việc cấp phép thiết lập hạ tầng mạng để tránh tình trạng cạnh tranh quá mức giữa các DN mà chủ yếu hiện nay là các DN nhà nước, nhằm tránh lãng phí nguồn lực và đảm bảo hiệu quả đầu tư. Trong giai đoạn này các DN hạ tầng mạng đã được cấp phép cần tranh thủ thời gian nâng cao năng lực cạnh tranh trên cơ sở đẩy mạnh đổi mới tổ chức SXKD theo hướng hình thành tập đoàn và các tổng công ty viễn thông mạnh, có trình độ công nghệ và quản lý hiện đại, chuyên môn hoá cao, có hạ tầng mạng lưới thống nhất đáp ứng được yêu cầu hội tụ công nghệ và dịch vụ; bảo đảm tự chủ kinh doanh, hạch toán độc lập, tiến tới xoá bỏ cơ chế bù chéo giữa các dịch vụ; đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá các DN, giai đoạn đầu tập trung vào các lĩnh vực dịch vụ giá trị gia tăng, Internet, di động. Có cơ chế, chính sách phù hợp khuyến khích các DN thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia bán lại dịch vụ cơ bản, cung cấp các dịch vụ Internet, dịch vụ giá trị gia tăng trên cơ sở mạng lưới của các DN hạ tầng. Tận dụng các cơ sở hạ tầng sẵn có khác đã được đầu tư như truyền hình cáp, thông tin trên đường dây điện lực để cung cấp các dịch vụ hội tụ.

    Thứ hai, về chính sách quản lý giá cước, thực hiện việc cân đối lại giá cước dịch vụ trên cơ sở giá thành và quan hệ cung cầu trên thị trường. Từng bước điều chỉnh giá cước các dịch vụ hiện nay còn thấp hơn giá thành để đảm bảo hiệu quả kinh doanh của các DN trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Trước mắt cần tập trung xây dựng đề án cơ cấu giá cước điện thoại nội hạt, nội vùng theo hướng xoá bỏ bao cấp, bù chéo trong việc xây dựng giá cước; bảo đảm công bằng giữa các địa bàn thành phố và nông thôn; bảo đảm hiệu quả phân bổ và sử dụng kho số. Từng bước điều chỉnh giá cước kết nối và giá cước thuê kênh giữa các DN trên cơ sở giá thành; xác định rõ phần đóng góp cho việc cung cấp dịch vụ viễn thông công ích trong giá cước kết nối.Tránh can thiệp bằng biện pháp hành chính vào việc điều chỉnh giá cước trên thị trường. Nhà nước chỉ quyết định giá cước đối với các dịch vụ công ích, các dịch vụ của các DN khống chế thị trường có ảnh hưởng đến sự thâm nhập thị trường của các DN khác.

    Thứ ba, về chính sách quản lý tài nguyên viễn thông (tần số, kho số), quy hoạch tài nguyên viễn thông trên cơ sở bảo đảm đầu tư, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả. Ưu tiên quy hoạch và phân bổ tài nguyên cho công nghệ, dịch vụ mới như Internet thế hệ sau, thông tin di động thế hệ mới (IMT-2000), truy nhập vô tuyến băng rộng (WIMAX). Nghiên cứu thử nghiệm các hệ thống tài nguyên mới như IPv6, ENUM v.v. Từng bước nghiên cứu xem xét các cơ chế giữ nguyên số thuê bao khi chuyển mạng (number portability), cơ chế chọn trước nhà khai thác đường dài trong nước và quốc tế (carrier pre-selection). Trước mắt cần tập trung xây dựng đề án cấp phép theo hình thức thi tuyển (Beauty Contest) cho các băng tần có giá trị như IMT-2000, WIMAX. Do đặc thù tại Việt Nam, trong một thời gian dài chỉ có một DN viễn thông, sau này do chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước Bộ Bưu chính, Viễn thông đã từng bước cấp phép cho các DN khác tham gia thị trường. Do đó việc cấp phép băng tần được thực hiện theo nguyên tắc xét cấp, tức là ai xin trước cấp trước. Cơ chế cấp phép nói trên chỉ có tác dụng trong giai đoạn đầu chuyển từ môi trường một DN sang môi trường nhiều DN. Hiện nay các quốc gia trên thế giới đều coi tần số là nguồn tài nguyên quý hiếm nêu họ đều cấp theo phương thức thi tuyển hoặc đấu giá. Đây là phương thức chọn lựa lấy một trong số các DN xin cấp phép vượt trội nhất về năng lực tài chính, trình độ chuyên nghiệp về kỹ thuật, công nghệ, có đủ kinh nghiệm triển khai và kinh doanh một cách có hiệu quả nhất băng tần được cấp. Theo cách làm này, chỉ phân bổ tần số cho DN thực sự có khả năng thiết lập mạng và kinh doanh có hiệu quả trong cung cấp dịch vụ tránh được tình trạng DN muốn và có khả năng triển khai thì không có giấy phép còn DN có giấy phép lại không có khả năng hoặc không muốn triển khai.

    Thứ tư, về chính sách quản lý kết nối và sử dụng chung cơ sở hạ tầng, chuyển mạnh từ cơ chế hành chính “xin cho” sang cơ chế hợp đồng kinh tế trong việc cung cấp dung lượng kết nối giữa các DN; xem xét áp dụng cơ chế quản lý phi đối xứng trong kết nối nhằm thúc đẩy cạnh tranh và tạo điều kiện cho các DN mới tham gia thị truờng; khuyến khích sử dụng chung cơ sở hạ tầng bao gồm vị trí lắp đặt thiết bị, cột anten, cống bể cáp và các thiết bị phụ trợ khác; tạo điều kiện thuận lợi cho các DN viễn thông thuê hạ tầng của các ngành khác như truyền hình, điện lực để thiết lập mạng lưới cung cấp dịch vụ; Từng bước nghiên cứu, xem xét áp dụng phù hợp một số cơ chế đặc biệt tại một số địa bàn và theo những điều kiên nhất định như chuyển vùng giữa các mạng di động (roaming) nhằm phục vụ các nhiệm vụ công ích, phân tách mạch vòng nội hạt (local loop unbundling) nhằm thúc đẩy cạnh tranh và tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng dịch vụ.
    Thứ năm, về chính sách viễn thông công ích , triển khai tích cực hoạt động của Quỹ Viễn thông công ích nhằm phân định rõ việc kinh doanh và việc thực hiện nhiệm vụ công ích của DN trong giai đoạn cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế; xây dựng và triển khai có hiệu quả chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích giai đoạn 2006-2010 nhằm từng bước nâng cao mức độ phổ cập dịch vụ và giảm khỏng cách phát triển về viễn thông và Internet giữa các vùng miền trong cả nước. Trước mắt tập trung xây dựng đề án CNTT và truyền thông với nông thôn (ICT với nông thôn) nhằm thiết lập một hạ tầng CNTT và truyền thông hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế nông thôn Việt Nam, cung cấp được các ứng dụng và dịch vụ giá rẻ như điện thoại IP, thư điện tử, truy nhập thông tin trong nước qua Internet v.v.

    Thứ sáu, về chính sách bảo vệ quyền lợi người sử dụng dịch vụ , đẩy mạnh công tác xây dựng tiêu chuẩn trong lĩnh vực viễn thông và Internet phù hợp với điều kiện cạnh tranh và hội nhập quốc tế; tăng cường quản lý chất lượng mạng lưới dịch vụ thông qua các hình thức công bố, giám sát, báo cáo và công khai chỉ tiêu chất lượng dịch vụ cung cấp ra cho xã hội của các DN; xây dựng và hoàn thiện các quy định an toàn, an ninh thông tin cũng như năng lực phòng chống tội phạm mạng; đảm bảo việc thanh tra, kiểm tra định kỳ thường xuyên và đột xuất, đồng thời xử lý nghiêm những vi phạm về giá cước và chất lượng dịch vụ để bảo vệ quyền lợi của khách hàng.
    Tóm lại, để gia nhập sâu và đầy đủ trong WTO chúng ta phải đổi mới thật sự các chính sách về quản lý từ cấp phép, tài nguyên viễn thông, giá cước, kết nối, tiêu chuẩn chất lượng đến thực thi pháp luật. Các chính sách đó phải phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, thông lệ và luật pháp quốc tế để bảo đảm cho ngành viễn thông Việt Nam “cất cánh” bay lên và hội nhập quốc tế thắng lợi.
    Trích trong bài của Thứ Trưởng Lê Nam Thắng: WTO-Chính sách Quản lý Viễn thông trong tạp chí Bưu chính viễn thông 3/2007

Chia sẻ trang này