1. THÔNG BÁO TUYỂN ADMIN DIỄN ĐÀN 2013
    Tìm kiếm nhà trọ - Ở ghép
    THÔNG BÁO BÁN ÁO SPKT.NET CHO THÀNH VIÊN DIỄN ĐÀN


    HÃY TÌM KIẾM Ở ĐÂY TRƯỚC KHI ĐẶT CÂU HỎI
    {xen:phrase loading}

Các nhà khoa học nổi tiếng của Việt Nam

Thảo luận trong 'Mạng máy tính-Viễn thông' bắt đầu bởi linhvienthong07, 20 Tháng tám 2010.

  1. linhvienthong07 Member

    Số bài viết: 83
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 6
    Lương Thế Vinh

    ( Toán học )

    [IMG]

    Lương thế Vinh sinh ngày mồng 1 tháng 8 năm Tân Dậu (1441) trong một gia đình nông dân nghèo ở làng Cao Hương, nay là làng Cao Phương, xã Liên bảo , huyện Vũ bản, tỉnh Nam định. Tuy nhà nghèo, nhưng thấy con mình thông minh ham học nên bố mẹ Thế Vinh cố lo cho con được học hành. Càng học càng giỏi , ngay từ bé Lương thế Vinh đã nổi tiếng “thần đồng làng Hương”.



    Năm 21 tuổi, Lương thế Vinh đi thi Hương, đậu Giải nguyên khoa Nhâm ngọ (1462). Năm 1463, về kinh thi Hội, Lương thế Vinh đậu thứ hai trong số 44 vị tân khoa chọn từ 1400 cống sĩ dự thi. Tiếp theo đó là cuộc thi Đình cho 44 vị tân khoa. Vua Lê thánh Tông tự tay ra đề thi với đề văn sách hỏi về “đạo trị nước của các bậc đế vương”. Trong bài làm của mình, Lương thế Vinh đã trình bày đường lối chính sách của các bậc vua chúa xưa nay, mạnh dạn khen chê, thẳng thừng phê phán, nêu điều hay đáng học, vạch điều dở cần tránh, để xây dựng và bảo vệ đất nước, làm cho dân ấm no hạnh phúc. Đọc bài văn nay, nhà vua đã phê: “Quyển này không hổ danh là một bài đối sách.Văn càng đọc càng thấy thích thú”, còn các khảo quan thì đánh giá : “Quyển này có học thức, xứng đáng đỗ đầu”. Và nhà vua đã cho Lương thế Vinh đậu Trạng nguyên, đứng đầu 44 vị Tiến sĩ.

    Ra làm quan, Lương thế Vinh là một bậc đại sĩ phu thanh liêm cương trực, chỉ trong 4 năm làm quan trong triều đã ba lần viết hặc tấu khiến nhà vua phải cách chức ba tên ba đại thần vì tội tham nhũng, ăn hối lộ, và vô luân.


    Ông có tài ngoại giao, thường giúp cho nhà vua việc văn từ bang giao với nước ngoài.


    Lương thế Vinh còn là một nhà giáo dục giỏi. Ông đã đề nghị nhà vua cải cách việc học hành thi cử , đưa việc học xuống tận nông thôn, cần quan tâm đến cả việc dạy tri thức và đạo đức. Ông là người đứng đầu Viện Hàn lâm, đồng Bí thơ giám trông coi kho sách của nhà vua, dạy học ở Quốc tử giám, còn là Tư huấn của Sùng văn quán và Tú Lâm cục, là những trường đào tạo nhân tài.


    Đặc biệt, Lương thế Vinh rất chú trọng đến môn toán, đến việc dạy toán và học toán. Ông đã biên soạn cuốn “Toán pháp đại thành” dày 160 trang, là cuốn sách giáo khoa toán đầu tiên ở nơớc ta. Bản cửu chương và bàn tính của ông rất thông dụng trong công sở và trong nhân dân. Dân quý mến gọi ông là Trạng Lường, tức là ông Trạng giỏi tính toán, đo lường.


    Lương thế Vinh còn có những công trình về âm nhạc nhơ bộ Đồng Văn chuyên hợp xướng và bộ Nhã nhạc chuyên hòa tấu bằng nhạc khí, dùng trong quốc lễ và triều hội. Tác phẩm Hý phường phả lục của ông là tác phẩm lí luận đầu tiên về nghệ thuật sân khấu chèo ở nước ta.


    Cuối đời , Lương thế Vinh về trí sĩ ở quê nhà và soạn cuốn “Thích điển giáo khoa Phật kinh thập giới” , chú giải hai tác phẩm Nam tông tự pháp đồ và Thiền môn giáo khoa của sơ Thường Chiếu đời Lý .


    Cuộc đời và sự nghiệp của trạng nguyên Lương thế Vinh đời đời được truyền tụng. Bức hoành phi “thiên hạ tri danh” đặt ở chính đường đền thờ Lương thế Vinh nói lên điều đó

  2. linhvienthong07 Member

    Số bài viết: 83
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 6
    Nhà bác học nông nghiệp Lương Định Của

    [IMG]


    Vào những năm 1960, một giống lúa cây thấp, bông to được đưa vào đồng ruộng đã làm thay đổi hẳn cuộc sống của người dân, góp phần tăng sản lượng hàng triệu tấn lương thực. Người đã tìm ra giống lúa đó là ai, chúng ta hãy cùng tìm hiểu.

    Nhà bác học về ngành nông nghiệp Luơng Định Của sinh ngày 19 tháng 8 năm 1920 tại xã Đại Nghĩa, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Thời thơ ấu, ông học ở Trường dòng Tabe, thị xã Sóc Trăng. Năm 1937, ông đỗ tú tài toàn phần tại Sài-gòn, sau đó sang Hồng Công học đại học y khoa và tiếng Anh. Gần hết khoá học, ông chuyển sang Trung Quốc theo học Trương Đại học kinh tế Thượng Hải. Do xảy ra chiến tranh nên trường này phải đóng cửa. Năm 1943, ông sang Nhật, thi vào khoa sinh vật thực nghiệm Trường Đại học Kyushyu.


    Năm 1946, ông tiếp tục lên Kyoto, một thành phố lớn của Nhật theo học ngành nông nghiệp, khoa di truyền học tế bào, tại đây ông đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ nông học khoa di truyền chọn giống.


    Là một giáo sư có tài, lương cao, có cuộc sống sung túc nhưng ông vẫn nặng lòng hướng về tổ quốc. Năm 1952, sau khi nhận được bằng bác sĩ nông học, nhiều người khuyên ông nên sang các nước Âu Mỹ làm việc. Kiên quyết từ bỏ giàu sang, sung sướng, ông cùng gia đình trở về tổ quốc sau mười năm học tập, tu nghiệp và làm việc xa quê. Đến năm 1954, ông cùng vợ và hai con tập kết ra Bắc, gia đình ông ở một căn phòng tầng bốn khu tập thể Kim Liên, Hà Nội. Ông được bố trí công tác tại Viện Khảo cứu nông lâm, sau đó là Trường Đại học nông nghiệp, Viện Cây lương thực và thực phẩm. Sau khi về nước, được sống và làm việc trên đất Bắc, được làm công dân một nước độc lập, có Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, ông đã dồn hết trí tuệ, tâm lực vào việc nghiên cứu, thực nghiệm, tìm ra các loại giống lúa có năng suất cao.


    Lương Định Của chính là “ông tổ” của giống lúa Nông nghiệp 1, giống lúa lai tạo thành công đầu tiên tại nước ta. Nó có nhiều đặc tính tốt như bông to, hạt nhiều, có tác dụng lớn trong việc luân canh do thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất lại cao. Giống lúa này có được từ việc lai giữa các giống Ba thắc, Nam Bộ x Kunko của Nhật Bản. Sau giống Nông nghiệp 1, Lương Định Của tiếp tục nghiên cứu lai tạo và ông lại cho ra đời giống lúa mới, giống chiêm 314 (lai giữa các giống Đoàn kết và Thắng lợi). Năm 1968, giống lúa mới được đưa vào đồng ruộng và hiện nay vẫn còn được gieo trồng tại một số vùng đồng bằng Bắc bộ. ông còn chọn giống từ IR8 ra NN8-388, giống NN75-1 (lai giữa giống 813 với NN1), giống lúa mùa muộn Saisubao...


    Vào những năm 1960, một giống lúa cây thấp, bông to xuất hiện, đó chính là giống Nông nghiệp 8 ngày nay. Nông nghiệp 8 khi được đưa vào đồng ruộng đã làm thay đổi hẳn cuộc sống của người dân, góp phần tăng sản lượng hàng triệu tấn lương thực. Nông nghiệp 8 đã trở thành cái tên thân quen đối với nhà nông suốt mấy chục năm qua.


    Không dừng lại ở những thành công đã đạt được, Giáo sư Lương Định Của tiếp tục thực nghiệm tìm tòi phương pháp lai tạo mới và đã thành công trong việc tạo ra giống lúa Nông nghiệp 87-5 tức lúa xuân sớm “tuyệt vời.” Xuân sớm có khả năng chịu rét, năng suất đạt tới trên sáu tấn một hec-ta. Ba năm sau ngày ông mất, tháng 11 năm 1978, Uỷ ban Khoa học Nhà nước đã cấp bằng sáng chế và công nhận Giáo sư Lương Định Của là tác giả của giống lúa xuân sớm.


    Không chỉ tạo ra giống lúa tốt cho nông dân nói riêng và ngành nông nghiệp nước nhà nói chung, Giáo sư Lương Định Của còn vận dụng những kiến thức về tế bào học và di truyền dục chủng để tạo ra nhiều loại giống cây trồng có hiệu quả như dưa lê, cà chua, khoai lang, dưa hấu không hạt. Ông là người đã tạo ra giống dưa hấu tam bội thể đầu tiên, giống rau muống tứ bội có thân lá to dùng cho chăn nuôi, giống khoai lang năng suất cao. Tên ông từng được nông dân gọi liền với tên của sản phẩm một cách thân thiết: Dưa lê ông Của, cà chua ông Của, giống lúa ông Của... Ông là người đã đề xướng ra một số mô hình canh tác như bờ vùng, bờ thửa.


    Các công trình khoa học chính của ông là: Đa bội thể ở tông Oryzeae, ảnh hưởng của ánh sáng trên các giai đoạn của giống lúa khi nhận đoản quang kỳ, nghiên cứu tế bào học trên lúa Oryzasativa.


    Ông đã góp phần đào tạo nhiều thế hệ học trò xuất sắc.

    Năm 1967, Giáo sư Lương Định Của đã được Đảng và Chính phủ trao tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lao động, Huân chương Lao động hạng nhất. Ông đã được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học-kỹ thuật đợt một vào năm 1996.


    Năm 1945, đang còn là du học sinh tại Nhật, ông xây dựng gia đình với bà Namuko Nakamura, người Nhật vốn là sinh viên đại học quốc lập Kyushyu. Bà kém ông hai tuổi, trong thời gian sống tại Nhật ông bà đã có với nhau hai người con. Khi trở về nước bà làm công tác trợ giúp giáo sư Lương Định Của nghiên cứu lai tạo giống cây trồng. Sau đó bà lại tham gia làm biên dịch viên kiêm phát thanh viên tiếng Nhật tại Ban tiếng Nhật, Đài tiếng nói Việt Nam. Năm nay, bà đã 87 tuổi, hiện sinh sống cùng con cháu tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Giáo sư, tiến sĩ nông học Lương Định Của mất ngày 24 tháng 12 năm 1975 tại Hà Nội.

    Nhà nông học Lương Định Của không còn nữa nhưng dấu chân của ông trên các cánh đồng, những giống cây ông để lại và tên tuổi ông vẫn còn khắc sâu trong tâm trí của những người nông dân Việt Nam. Nông dân nước ta luôn trìu mến gọi ông là nhà bác học của họ.


    Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã thành lập một Giải thưởng mang tên Lương Định Của hàng năm xét trao cho 100 gương mặt tiêu biểu đại diện cho 13 triệu thanh niên nông thôn có những thành tích xuất sắc trong các lĩnh vực: sản xuất kinh doanh, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ, xây dựng nông thôn mới... Năm 2008, Giải thưởng do Công ty phân đạm hoá chất và dầu khí tài trợ. Trong số các nhà nông trẻ xuất sắc về dự Lễ trao Giải thưởng Lương Định Của năm 2008 vừa qua có 14 gương mặt còn rất trẻ, tuổi đời từ 20-27. Nhiều người trong số họ có doanh thu trên 1 tỉ đồng/năm. Đó là những “ông chủ mới” năng động, dám nghĩ, dám làm trong phong trào thanh niên nông thôn thực hiện bốn mới (kỹ thuật mới, ngành nghề mới, thị trường mới và mô hình mới).


    Tại quận Đống Đa, thủ đô Hà Nội có một đường phố được vinh dự mang tên ông. Phố này trải dài từ ngã tư Phương Mai tới phố Phạm Ngọc Thạch. Đây là một phố sầm uất, có hai trường học, nhiều ki-ốt kinh doanh đồ điện, nhiều cửa hàng kinh doanh vàng bạc... đặc biệt tại ngã ba Phạm Ngọc Thạch - Lương Định Của có một dãy ki-ốt kinh doanh hoa tươi bốn mùa rực rỡ sắc màu toả hương thơm ngát như luôn tưởng nhớ tới Lương Định Của, một nhà nông học xuất sắc, người đi đầu trong lĩnh vực cải tạo giống cây trồng của Việt Nam.
  3. linhvienthong07 Member

    Số bài viết: 83
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 6
    Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa
    ( cơ khí )




    [IMG]


    Thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ngoài tinh thần yêu nước của quân và dân ta còn có sự đóng góp của các loại vũ khí chiến đấu mà thế hệ sau không thể quên công lao người đã sáng chế ra chúng. Đó là Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa với sự thành công của súng SKZ không giật.


    Giáo sư Trần Đại Nghĩa tên khai sinh là Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13/9/1913, tại xã Chánh Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, Nam Bộ trong một gia đình nhà giáo nghèo. Đây là một vùng giàu truyền thống cách mạng. Cha ông Phạm Văn Mùi là một nhà nho nghèo thường dạy con theo các chuẩn mực đạo Khổng: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Mồ côi cha từ năm lên 6 tuổi, Phạm Quang Lễ do tiếp thu được truyền thống yêu nước thương người của gia đình và có trí óc thông minh, đã được mẹ và chị hết lòng nuôi dưỡng.



    Năm 1926, Lễ học xong bậc tiểu học, tốt nghiệp hạng ưu và sau đó đỗ tiếp vào Trường Trung học Mỹ Tho. Vì đỗ hạng ưu nên Lễ được cấp học bổng. Suốt bốn năm học ở bậc trung học đệ nhất cấp, Lễ là học sinh xuất sắc, thường đạt điểm cao và đứng đầu về các môn khoa học tự nhiên như toán, vật lý, hoá học. Năm 1930, Lễ tốt nghiệp trung học phổ thông và tiếp tục học Trung học đệ nhị cấp Pê-trus Ký, một trường học nổi tiếng của Sài Gòn. Trường quy định chặt chẽ giờ học, giờ nghỉ, giờ ăn, giờ ngủ nhưng đối với những học sinh ham học như Lễ, giờ học trong nội quy còn quá ít. Anh và các bạn đã nghĩ ra cách học. Khi có lệnh tắt đèn đi ngủ, họ chia nhau người vào nhà tắm, người vào nhà cầu, bật đèn học tiếp. Thoạt đầu, các giám thị rất ngạc nhiên: nhà cầu đóng cửa hàng giờ mà không có ai ra, nhà tắm đóng cửa mà không có tiếng xối nước. Sau đó nhiều người phát hiện được mưu mẹo của Lễ và các bạn anh nhưng rồi nể họ là những học sinh ham học nên phần đông giám thị cho qua. Cũng trong thời kỳ Lễ học Trung học đệ nhị cấp Pê-trus Ký, có nhiều hoạt động chống thực dân Pháp nổ ra như hoạt động của cụ Phan Bội Châu, phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, các cuộc bãi công, bãi thị do Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức, khởi nghĩa Yên Bái. Các sự kiện đó khơi sâu lòng yêu nước trong giới học sinh. Tuy nhiên, hầu hết đều bị thực dân đàn áp dã man và bị thất bại. Một trong những nguyên nhân thất bại là vấn đề vũ khí: lực lượng cách mạng không có vũ khí trong khi quân đội thuộc địa được “trang bị đến tận răng”. Muốn thắng kẻ thù, ngoài những người lo về chính trị, phải có người lo về quân sự, về khoa học, về vũ khí. Cho nên, Lễ đã sớm xác định hướng đi cho mình là học giỏi, nhất là các môn khoa học tự nhiên để sau này nghiên cứu về vũ khí giúp cho công cuộc giải phóng dân tộc.



    Năm 1933, chàng thanh niên 20 tuổi, Phạm Quang Lễ đã đỗ xuất sắc hai bằng tú tài: Tú tài tây và Tú tài bản xứ.


    Tháng 9 năm 1935, được nhà báo Vương Quang Ngươu, một Việt kiều trí thức tận tâm giúp đỡ, đã vận động Hội ái hữu của Trường Chasseloup-Laubat cấp cho học bổng du học bên Pháp, Phạm Quang Lễ có cơ hội để thực hiện hoài bão của mình. Suốt 11 năm học tập tại Pháp, anh miệt mài nghiên cứu tại các Trường Đại học bách khoa Pa-ri, Trường Đại học mỏ, Đại học Sorbone, Trường Đại học quốc gia Cầu Cống, Viện Khí động học, Học viện Thống kê, Trường Cao đẳng kỹ thuật Điện. Sau giờ học, anh thường đến các thư viện để tra cứu sách liên quan đến chế tạo vũ khí. Anh cũng tìm đến những hiệu sách cũ để tìm những quyển sách về đề tài này. Ngoài ra, Lễ còn tham dự các buổi thực nghiệm, đi tham quan các nhà máy, các viện nghiên cứu... nhất là các viện bảo tàng vũ khí.


    Trong lĩnh vực vũ khí quân sự, Đức là nước đạt nhiều thành tựu. Để đọc thẳng sách về vũ khí bằng tiếng Đức, Lễ đã tự học thứ tiếng này. Trong ba ngày, anh học hết những nguyên tắc cơ bản của văn phạm và bắt đầu đọc sách. Nhưng như vậy thì rất chậm vì anh phải tra từ điển quá nhiều. “Tại sao trước hết ta lại không học các từ? Có thể như vậy sẽ nhanh hơn”- Lễ tự nhủ. Trong hai ngày, anh học thử hai mươi trang từ điển, gồm gần sáu trăm chữ và anh nhớ được hai trăm. Với cách học này, sau một tháng anh học xong và nhớ được khoảng 4000 từ đủ để đọc sách thẳng từ tiếng Đức. Ngoài nghiên cứu về sản xuất vũ khí, Lễ còn tìm hiểu thêm môn khoa học quản lý. Anh cũng nhận thấy phải giữ bí mật cho những công việc của mình. Vì thế, anh đã tìm đọc những sách nói về công tác phản gián. Anh cần biết các điệp viên thường làm những gì khi điều tra đối tượng của họ, để anh giữ mình... Anh làm việc kín đáo đến mức: công việc anh làm trong mười một năm vẫn không ai hay, trừ một vài người bạn.


    Ngay từ năm 1936, anh sinh viên Phạm Quang Lễ đã được nghe đến tên tuổi Nguyễn Ái Quốc, từ thời điểm này, tư tưởng yêu nước của Nguyễn Ái Quốc đã định hướng về mặt chính trị cho Giáo sư Viện sĩ Trần Đại Nghĩa sau này.

    Sau khi tốt nghiệp các trường đại học (từ năm 1936 đến năm 1941), Phạm Quang Lễ đã lần lượt làm việc tại ba công ty chế tạo máy bay của Pháp. Trong thời gian này, ông đã thu thập thêm kiến thức về pháo, súng máy và bom mìn đồng thời quan sát các ụ súng của quân đội Pháp chuẩn bị ứng chiến với phát xít Đức.


    Tháng 9 năm 1946, ông cùng với một số trí thức khác theo Bác Hồ về nước để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta. Lúc về nước, ông không mang theo một thứ gì khác ngoài một tấn sách và tài liệu được đóng hòm dán nhãn ngoại giao. Khi còn lưu tại Pháp, Bác Hồ đã hỏi ông hai câu:

    Câu thứ nhất: "Ở nhà cực khổ lắm, chú về có chịu được không?" – Ông thưa: "Chịu nổi".

    Câu thứ hai: "Bây giờ ở nhà kỹ sư, công nhân về vũ khí không có, máy móc thiếu, liệu chú có làm được việc không?" - Ông nói: "Thưa Bác, tôi đã chuẩn bị mười một năm rồi và tôi tin là làm được".


    Ngày 5 tháng 12 năm 1946, trước Ngày Toàn quốc kháng chiến, tại Bắc Bộ Phủ, ông được Bác Hồ giao cho một trọng trách. Bác nói: "Kháng chiến sắp đến nơi rồi. Hôm nay, Bác quyết định giao cho chú nhiệm vụ làm Cục trưởng Cục Quân giới. Chú sẽ chăm lo vũ khí cho quân đội. Đây là việc đại nghĩa. Vì thế, từ nay Bác đổi tên cho chú là Trần Đại Nghĩa..."


    Ngày 12 tháng 12 năm 1946, Bác Hồ đến thăm Trường Võ bị Sơn tây, cùng đi với bác có Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp và đồng chí Trần Đại Nghĩa vừa được bác bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục quân giới. Trước đông đảo cán bộ, học viên nhà trường, Bác giới thiệu: “Bác vừa qua Pháp có dẫn về một chuyên gia vũ khí”. Mọi người hồ hởi chào đón đồng chí Cục trưởng mới vừa bắt tay vào nhận nhiệm vụ.


    Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, Trần Đại Nghĩa với tư cách là một lãnh đạo và một nhà khoa học, đã cùng với các đồng chí của mình và hàng ngàn công nhân kỹ thuật trong cả nước hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình: sản xuất vũ khí cho quân đội Việt Nam. Thành công về quân giới của chúng ta trong hai cuộc kháng chiến chủ yếu là do biết tập trung vào vũ khí phục vụ chiến tranh nhân dân. Những công trình khoa học kỹ thuật chế tạo vũ khí như Bazôka, súng đại bác không giật (SKZ),... thực sự là những kỳ tích của Trần Đại Nghĩa và các cộng sự của ông. Các công trình này đã đóng góp vào việc giải quyết lý thuyết và thực nghiệm các vấn đề về cơ khí, hoả thuật và thuốc phóng để chế tạo thành công súng Bazôka bắn đạn lõm, công cụ chủ yếu chống chiến xa lúc bấy giờ, với sức xuyên thép 150 mm, súng có thể vác vai cơ động, cự ly bắn 50-150 m. Loại vũ khí này mang tính sáng tạo cao, phù hợp với điều kiện vật chất và kỹ thuật của Việt Nam lúc bấy giờ, góp phần quan trọng vào việc tăng cường hoả lực của bộ binh ta, tạo điều kiện thuận lợi để đánh thắng kẻ thù.


    Nhà bác học Trần Đại Nghĩa cùng với các cộng sự gần gũi như Nguyễn Trinh Tiếp, Hoàng Đình Phu, Bùi Minh Tiêu, Phạm Đồng Điện, Nguyễn Văn Hường... đã lặp lại quá trình sáng chế ra súng SKZ hoàn toàn độc lập với người Mỹ. Cuối cùng, ông và tập thể đã thành công. Thế là, chỉ sau Mỹ mấy năm, Việt Nam đã chế tạo được súng không giật. SKZ Việt Nam xuất hiện lần đầu trong trận Phố Lu, đánh phá tan tành các lô-cốt địch có tường dày hơn 1 m. Vũ khí Việt Nam do người Việt Nam chế tạo đã làm kinh ngạc giới khoa học quân sự các nước phương Tây.


    Năm 1950, chiến trường Nam Trung bộ nhận được 10 khẩu SKZ và 150 quả đạn từ Việt Bắc chuyển vào. Trong một đêm, ta nhổ 5 đồn giặc. Quá hốt hoảng, địch đã bỏ chạy thục mạng khỏi 100 đồn bốt khác. Có SKZ rồi, Trần Đại Nghĩa nghĩ tới đạn bay, Sau đó ông đã thành công trong việc chế tạo được loại tên lửa nặng 30 kg, có thể đánh phá các mục tiêu cách xa 4km.

    Trần Đại Nghĩa cũng là một nhà nghiên cứu rất có quyết tâm, không sờn lòng trước những khó khăn. "Người nghiên cứu phải có một niềm tin mãnh liệt không nản chí trước những thất bại tạm thời, bền bỉ, nhẫn nại đến mức cao nhất", ông luôn nghĩ và làm như vậy. Sau chiến dịch Thu đông năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh phong quân hàm đợt đầu cho các sĩ quan cao cấp của quân đội. Nhà bác học Trần Đại Nghĩa được phong quân hàm thiếu tướng cùng với các thiếu tướng khác như: Nguyễn Sơn, Hoàng Văn Thái, Văn Tiến Dũng, Lê Thiết Hùng. Tại đại hội thi đua toàn quốc năm 1952, Trần Đại Nghĩa trở thành nhà trí thức Việt Nam đầu tiên được tặng danh hiệu Anh hùng lao động.


    Vì những đóng góp to lớn đối với quân đội Việt Nam nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung, Trần Đại Nghĩa được kết nạp vào Đảng năm 1949.


    Ngày Quốc tế lao động năm 1952, Trần Đại Nghĩa được tuyên dương Anh hùng lao động trong số bảy Anh hùng của Đại hội chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc được tổ chức tại Việt Bắc. Bác Hồ trong một bài báo ký tên C.B đã viết về ông: "Anh hùng lao động Trần Đại Nghĩa là một đại trí thức, mang một lòng nhiệt thành về phụng sự Tổ quốc, phục vụ kháng chiến".


    Năm 1996, giáo sư Trần Đại Nghĩa đã được Nhà nước trao Giao thưởng Hồ Chí Minh với công trình: "Nghiên cứu và chỉ đạo kỹ thuật chế tạo súng Bazôka, súng SKZ, đạn bay trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954". Trước đó, ông cũng được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng ba và Huân chương Quân công hạng nhất.


    Những năm cuối đời, Giáo sư Viện Sĩ Trần Đại Nghĩa cùng gia đình trở về quê hương miền Nam, sinh sống tại quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Với những cống hiến cho đất nước, có một nhân cách lớn và lý tưởng sống cao đẹp. Giáo sư Viện sĩ Trần Đại Nghĩa đã để lại sau lưng cả một huyền thoại.


    Ông mất vào lúc 16 giờ 20 phút ngày 9 tháng 8 năm 1997, hưởng thọ 85 tuổi.

    Được Đảng và Nhà nước tin tưởng, ông đã lần lượt đảm trách những chức vụ quan trọng:
    - Cục trưởng Cục Quân giới (12/1946-05/1954)

    - Cục trưởng Cục Pháo binh (8/1949-11/1951)

    - Thứ trưởng Bộ Công nghiệp (9/1950-9/1960)

    - Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng (9/1960-2/1963)

    - Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiến thiết Nhà nước (2/1963-3/1972)

    - Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước (10/1965-8/1966)

    - Phó Chủ nhiệm Tổng cục hậu cần (8/1966-1/1977)

    - Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam (1/1977-1/1983), tiền thân của Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ quốc gia ngày nay.

    - Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Đại học bách khoa Hà Nội.

    - Đại biểu Quốc hội khoá II, III.

    - Viện sĩ nước ngoài của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô.

    - Uỷ viên ban chấp hành Tổng Công đoàn Việt Nam.

    - Cố vấn Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam.


    Năm 1983, ông nhận nhiệm vụ vận động đội ngũ trí thức trong tất cả các ngành khoa học và công nghệ thành lập Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội). Giáo sư Trần Đại Nghĩa trở thành Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp Hội, nhiệm kỳ 1983-1988.


    Dù ở cương vị nào ông cũng hoàn thành nhiệm vụ. Là một quân nhân, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa luôn dũng cảm, tận tuỵ. Là một nhà khoa học, Giáo sư, Viện sỹ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô Trần Đại Nghĩa đã nêu tấm gương của một nhà nghiên cứu chân chính, hết lòng vì sự nghiệp khoa học, ông sống giản dị, mẫu mực được nhân dân cả nước và đồng nghiệp yêu quý, mến phục. G.S V.S Trần Đại Nghĩa là người đại diện xuất sắc cho đội ngũ khoa học nước nhà. Các công trình nghiên cứu của ông được quốc tế đánh giá cao.


    Tháng 8 năm 2007, Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định lấy tên ông đặt cho một con đường mới tại Thủ đô. Phố Trần Đại Nghĩa nối phố Lê Thanh Nghị với đường Đại Cồ Việt và đi qua cổng phía đông của các Trường Đại học bách khoa, Trường Đại học xây dựng. Đay chính là một ghi nhận của Thành phố Hà Nội đối với những công lao to lớn của ông đối với ngành giáo dục Việt Nam.


    Trước đó, Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã lấy tên ông đặt cho một con đường tại quận Bình Tân đi từ quốc lộ 1 đến Khu công nghiệp Lê Minh Xuân. Ngoài ra, tên ông còn được đặt cho một số trường học trên cả nước
  4. linhvienthong07 Member

    Số bài viết: 83
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 6
    Mặc dù không liên quan nhiều đên Máy tính - VT nhưng mình xin được phép post bài tại đây. Topic này là nơi anh em giới thiệu về những nhà khoa học nổi tiếng người VN trong và ngoài nước( mặc dù chưa có nhiều ) . Qua đó mọi người có dịp tìm hiểu ,học hỏi và phấn đấu học tập làm phát triển nền khoa học kĩ thuật Việt Nam. Mong nhận được sự ủng hộ của mọi người :d
  5. linhvienthong07 Member

    Số bài viết: 83
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 6
    GS Tạ Quang Bửu: Người đầu tiên sáng lập ngành CNTT Việt Nam

    Vào dịp 100 năm ngày sinh của GS Tạ Quang Bửu (23/7/1910 - 23/7/2010), xin được tưởng nhớ đến GS, người đã đề xuất, tổ chức thực hiện việc đưa máy tính điện tử đầu tiên về nước, sáng lập ngành CNTT...

    [IMG]


    GS Tạ Quang Bửu.

    Tầm nhìn của nhà lãnh đạo


    Vào những năm 1960 của thế kỉ trước, khi miền Bắc nước ta đang bị máy bay giặc Mỹ đánh phá ác liệt, cuộc chiến đấu cho ngày thống nhất đất nước đang huy động biết bao nguồn lực của cả nước cho miền Nam, GS Tạ Quang Bửu vẫn không quên xây dựng một đội ngũ nhân lực KHCN cho đất nước, nổi bật là những nhà toán học, những người làm máy tính điện tử mà sau này được gọi là Tin học, rồi CNTT.


    Theo sáng kiến của GS Tạ Quang Bửu, lúc bấy giờ là Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học - Kĩ thuật Nhà nước (KHKTNN), nước ta bắt đầu xây dựng ngành máy tính điện tử mà một trong những việc đầu tiên là nhập một máy tính điện tử cỡ trung bình, máy tính điện tử Minsk-22 của Liên xô.

    Để chuẩn bị cho việc lắp đặt, vận hành và khai thác máy tính điện tử Minsk-22 (tốc độ 6.000 phép tính/giây, bộ nhớ 32 KB, làm bằng đèn bán dẫn), Ủy ban KHKTNN đã cử một đoàn thực tập sinh gồm 9 người được tuyển chọn từ nhiều nơi (ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Tổng hợp Hà Nội - nay là ĐH Quốc Gia Hà Nội và từ quân đội) để đi thực tập về máy tính điện tử ở Liên Xô.

    Trong đó có 5 người thực tập ở Trung tâm Tính Toán Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô ở Moskva là Nguyễn Tâm (đã mất), Hồ Thuần, Trần Văn Nho (đã mất), Trần Văn Tiểu và tôi - Nguyễn Lãm và 4 người thực tập ở Tashkent là Nguyễn Liệu (đã mất), Nguyễn Hoàng, Trần Văn Ân (đã mất), Lê Thiện Phố. Trong số những người đi thực tập, có người, sau 2 năm, hết thời hạn thực tập thì về nước, có người ở lại làm nghiên cứu sinh. Vào khoảng năm 1966, lại có thêm một đoàn cán bộ khác sang thành phố Minsk thực tập để nhận máy tính điện tử Minsk-22 về.

    Giám đốc Trung tâm tính toán Viện hàn lâm khoa học Liên xô lúc bấy giờ là Viện sĩ hàn lâm khoa học Liên xô Anatoli Alekxêevich Dorodnitsyn. Khi ở lại làm nghiên cứu sinh, tôi được viện sĩ trực tiếp hướng dẫn. Viện sĩ đã từng làm việc, có thể nói là khá thân thiết với GS Tạ Quang Bửu, GS Lê Văn Thiêm. Qua những lúc thầy trò tâm sự, tôi cảm nhận sự kính trọng của Viện sĩ đối với các vị tiền bối ngành toán học này của nước ta. Ông cũng biết được GS Lê Văn Thiêm nguyên là một nhà toán học ở Pháp, đã về nước theo tiếng gọi của Bác Hồ vào khoảng năm 50 của thế kỉ trước và lặn lội dọc đường rừng Trường Sơn từ miền Nam ra miền Bắc. Còn với GS Tạ Quang Bửu thì Viện sĩ đã có nhiều lần trao đổi về sự phát triển ngành máy tính nói chung và ở Việt Nam nói riêng (Viện sĩ A.A. Dorodnitsyn cũng tròn 100 tuổi vào năm nay, 2/12/1910 - 2/12/2010).
    Để chuẩn bị cho việc tổ chức bảo trì, khai thác máy tính điện tử Minsk-22 và xây dựng đội ngũ cán bộ máy tính, cán bộ điều khiển học, Ủy ban KHKTNN thành lập phòng Toán học Tính toán trực thuộc Ủy ban, là tiền thân của Viện CNTT - Viện KKHCN ngày nay. Vào khoảng cuối năm 1967, máy Minsk-22 về nước. Lúc bấy giờ GS Tạ Quang Bửu tuy không còn làm phó chủ nhiệm Ủy ban KHKTNN mà đã sang làm bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp nhưng vẫn rất quan tâm đến xây dựng ngành máy tính ở nước ta. Ông đã có tác động quan trọng trong việc chuẩn bị chỗ đặt máy Minsk-22 ở tầng 1 nhà 39 Trần Hưng Đạo (trụ sở Bộ KHCN ngày nay) và chuẩn bị cho việc đào tạo đội ngũ cán bộ làm CNTT ở nước ta. Đặt máy ở 39 Trần Hưng Đạo là một thuận lợi lớn cho việc bảo trì, khai thác máy. Quyết định đặt ở đấy là một quyết định táo bạo vì địch có thể bắn phá bất cứ lúc nào. Ủy ban cũng đã chuẩn bị một địa điểm khác, làm một hầm sâu trong khu Đồi thông ở phố Đội cấn (Về sau này, khi máy ODRA về nước thì được đặt ở đấy).

    Khi máy tính điện tử Minsk-22 đã được vận hành, GS đã có tác động với các Bộ, các ngành khai thác máy tính điện tử và nhiều ngành đã khai thác thành công như ngành khí tượng thuỷ văn, ngành giao thông vận tải, ngành xây dựng kiến trúc… Đặc biệt, máy tính điện tử Minsk-22 trở thành một nơi đào tạo thực hành cho sinh viên nhiều trường đại học. Tuy GS không trực tiếp chỉ đạo và điều hành phòng Toán học Tính toán thuộc Ủy ban KHKTNN, nhưng chúng tôi, những người phụ trách bộ phận này đã không ít lần trực tiếp xin ý kiến GS về vấn đề này vấn đề khác, đặc biệt là việc điều động cán bộ từ các trường ĐH về công tác tại phòng Toán học tính toán. Chính GS Tạ Quang Bửu đã kí quyết định đưa GS Phan Đình Diệu từ Trường ĐH Sư phạm Hà nội (sau khi bảo vệ luận án Tiến sĩ khoa học ở ĐH Lomonosov) về công tác tại Phòng Toán học Tính toán - UBKHKTNN. GS Tạ Quang Bửu cũng đã trực tiếp can thiệp để cử những người giỏi đi học nước ngoài và họ đều đã trở thành những người tài. Làm việc với GS, chúng tôi luôn cảm nhận được sự thông cảm, sự cởi mở thẳng thắn và tận tình giúp đỡ.

    Vị bộ trưởng thông thái



    Cũng trong những năm chiến tranh, GS Tạ Quang Bửu đã mời một số nhà toán học nước ngoài từng được tặng Giải thưởng Fields như Laurent Schwartz, Alexandre Grothendieck sang thăm Việt nam và trình bày về các vấn đề toán học hiện đại cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu toán học nước ta. GS là người đề xuất và chỉ đạo tổ chức thực hiện việc thi tuyển sinh đại học một cách nghiêm túc và kiểm tra kiến thức cho người đựơc lựa chọn đi làm nghiên cứu sinh một cách công bằng. Ông cũng là một trong những người chủ trương mở các lớp phổ thông chuyên toán ở nước ta và mạnh dạn đưa học sinh nước ta đi dự thi các Olympic Toán Quốc tế ngay từ năm 1974. Như ta đã biết, nhiều học sinh chuyên toán về sau này đã trở thành những nhà toán học, những nhà khoa học nổi tiếng ở nước ta.


    Nhà ngôn ngữ toán học Mĩ Noam Chomsky, người được tạp chí Mĩ Newsweek đánh giá là “một trong những nhà bác học lớn nhất thế kỷ 20”, một nhà trí thức chống chiến tranh của Mĩ ở Việt nam, theo lời mời của GS Tạ Quang Bửu, vào năm 1972 sang thăm Việt Nam và trình bày một chuyên đề về Toán - Ngôn ngữ cho cán bộ khoa học ở nước ta. Buổi chuyên đề đó tổ chức ở Trường ĐH Bách khoa – Hà nội. Tôi có dự.

    Hội trường Trường ĐH Bách khoa người nghe ngồi chật kín. Khi mới bắt đầu trình bày thì bỗng một hồi còi tàu hoả vang lên (hội trường ở gần đường sắt), GS Chomsky ngừng lại, nhìn đăm chiêu, rồi nói: “Ở quê nhà, tôi cũng thường được nghe những hồi còi tàu như thế này!” Toán - Ngôn ngữ là một trường phái mới do GS Chomsky lập ra, nó gắn chặt chẽ với điều khiển học, với máy tính điện tử. Dĩ nhiên, đối với các nhà toán học nước ta, đây là một vấn đề khá mới mẻ.

    Hôm đó đã có chuẩn bị những phiên dịch tiếng Anh của Ủy ban KHKTNN, những người đã từng dịch cho nhiều đoàn khoa học nước ngoài, nhưng rất khó để diễn đạt nội dung của chuyên đề nên GS Tạ Quang Bửu phải dịch thay và dịch suốt cả ngày, chẳng những dịch mà ông còn giải thích cho người nghe những chỗ khó hiểu, không khác gì một thầy giáo đang giảng bài! Phải là người am hiểu toán học hiện đại, lại phải hiểu ngôn ngữ học, giỏi tiếng Anh và hiểu biết về điều khiển học mới có thể dịch được hay như thế! GS Chomsky khi về Mĩ đã viết bài kể lại chuyến thăm Việt Nam trên Thời báo New York: “Tôi đã đi nhiều nước, nhưng chưa ở đâu tôi được gặp một vị bộ trưởng thông thái đến thế!” GS Tạ Quang Bửu là một con người cực kì thông minh!


    Tưởng nhớ đến GS, chúng tôi tỏ lòng kính phục và ghi nhớ sâu sắc lòng biết ơn GS, người đã luôn có những ý tưởng sắc sảo, tiên phong, sáng tạo trong quá trình mở đường cho sự phát triển một lĩnh vực mới mẻ ở nước ta, một ngành mà ngày nay nước ta xem là ngành mũi nhọn - ngành CNTT.

  6. linhvienthong07 Member

    Số bài viết: 83
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 6
    Giáo sư Ngô Bảo Châu đoạt giải thưởng Fields

    RẠNG DANH NƯỚC VIỆT:

    Trưa 19-8, giải thưởng Fields - được xem là giải "Nobel Toán học" - đã chính thức được Tổng thống Ấn Độ Pratibha Patil trao cho giáo sư Ngô Bảo Châu của Việt Nam. Hàng triệu người Việt vỡ òa hạnh phúc.
    Đúng 10 giờ 30 giờ Ấn Độ ngày 19-8 (tức 12 giờ 55 phút theo giờ VN), tại Trung tâm Hội nghị quốc tế thành phố Hyderabad, hơn 4.000 nhà toán học, quan khách và đại diện nhiều phái đoàn ngoại giao đã có mặt để tham dự phiên khai mạc toàn thể.
    Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga, ông Nguyễn Hoành Sơn - đại diện lâm thời đại sứ quán VN tại Ấn Độ, GS Lê Tuấn Hoa, TS Phan Thị Hà Dương cùng một số nhà toán học Việt Nam đều có mặt tham dự phiên khai mạc.
    Và nhân vật đặc biệt của sự kiện này - GS toán học Ngô Bảo Châu - cũng đã hiện diện trong sự chào đón của nhiều nhà toán học từ các quốc gia.
    Cả hội trường đã vang lên tiếng vỗ tay rào rạt khi các giải thưởng được trao.

    >> Xem phỏng vấn Giáo sư G.Laumon - thầy cũ của giáo sư Ngô Bảo Châu
    >> Xem phỏng vấn Giáo sư Martin Groetschel - Tổng thư ký Liên đoàn Toán học thế giới
    >> 3 nhà khoa học cùng đoạt giải Fields 2010
    >> Xem bản tin của VTV1 lúc 14g
    >> Xem báo chí thế giới đưa tin về Ngô Bảo Châu


    [IMG]


    Giáo sư Ngô Bảo Châu với huy chương Fields - Ảnh: Hoài Linh - Tuổi Trẻ

    [IMG]

    Tổng thống Ấn Độ Pratibha Patil trao giải thưởng Fields cho Giáo sư Ngô Bảo Châu (phải) - Ảnh: Hoài Linh - Tuổi Trẻ

    [IMG]

    Giáo sư Ngô Bảo Châu cùng các nhà toán học thế giới sau khi nhận giải thưởng - Ảnh: Hoài Linh - Tuổi Trẻ

    [IMG]

    Giáo sư Ngô Bảo Châu đang trao đổi với phóng viên Thanh Hà - báo Tuổi Trẻ (mặc áo trắng) và đồng nghiệp trước giờ trao giải - Ảnh: Hoài Linh - Tuổi Trẻ Ngay từ khi buổi lễ khai mạc bắt đầu, nhìn vào hàng ghế đầu của phiên khai mạc, giới toán học đã nhanh chóng khẳng định GS Ngô Bảo Châu chắc chắn sẽ giành giải Fields.
    Đúng như dự đoán, không lâu sau đó, trong bốn cái tên được xướng lên đã có Ngô Bảo Châu. Tên GS Ngô Bảo Châu được xướng lên thứ hai trong bốn nhà toán học được giải Fields lần này:
    - Elon Lindenstrauss, nhà toán học người Israel
    - Ngô Bảo Châu (Việt Nam)
    - Stalislav Smiarnov, nhà toán học người Nga, hiện đang làm việc tại Zurich (Thụy Sĩ)
    - Cedric Villani, nhà toán học người Pháp.
    Từ Việt Nam, qua thông tin của báo mạng, hàng triệu người Việt Nam vỡ òa hạnh phúc.


    [IMG]


    Công bố giải thưởng Fields Ngoài giải thưởng Fields, nhà toán học Daniel A. Spielman (ĐH Yale, Hoa Kỳ) được trao giải thưởng Gauss.
    Giải thưởng Chern lần đầu tiên được trao tại kỳ ICM lần này đã thuộc về nhà toán học Canada Luis Nirenberg.
    Giải Nevanlinna được trao cho Daniel Spielman (Mỹ).


    [IMG]

    [IMG]

    [IMG]

    Giáo sư Ngô Bảo Châu tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Hyderabad - Ảnh: Hoài Linh - Tuổi Trẻ

    Bổ đề Cơ bản của GS Ngô Bảo Châu đã chứng minh được lý thuyết mang tính cách mạng của nhà toán học người Mỹ Robert Langlands đưa ra năm 1979 về việc kết nối hai nhánh của toán học là lý thuyết số học và lý thuyết nhóm. "Như thể những người đang làm việc bên bờ xa của dòng sông, chờ đợi ai đó nối cho họ chiếc cầu để đi qua sông. Và bây giờ bỗng nhiên công sức của nhóm người bên kia sông được công nhận", chuyên gia lý thuyết số học hàng đầu Peter Sarnak, làm việc tại Viện Nghiên cứu Cấp tiến (IAS) tại ĐH Princeton, nói với AFP.

    Trao đổi với Tuổi Trẻ trước khi bước vào hội trường, GS Ngô Bảo Châu rất bình thản.
    GS Châu cho biết chỉ hồi hộp đôi chút khi nghĩ đến bài báo cáo sẽ trình bày trước phiên đoàn thể của đại hội vì đại hội là nơi tập trung tinh hoa của giới toán học thế giới, với sự hiện diện của các nhà toán học uy tín đến từ các cường quốc toán học trên thế giới.

    Ngay sau lời khi mạc ngắn gọn của ông Chủ tịch Liên đoàn toán học thế giới và lời chào mừng của thống đốc bang, các giải thưởng được công bố và trao bởi tổng thống Ân Độ - bà Pratibha Patil.
    Sau khi giải thưởng được công bố, Ban tổ chức tổ chức họp báo để giới thiệu những nhà toán học được vinh danh tại ICM2010.

    Giải Fields gồm một huy chương vàng và tiền thưởng 15.000 USD (năm 2006).
    Sinh năm 1972 tại Hà Nội, Ngô Bảo Châu từng đoạt huy chương vàng Olympic toán học 1988 và 1989. Bảo Châu đi du học ở Pháp năm 1989 và bảo vệ luận án tiến sỹ tại Đại học Sư phạm Paris khi mới 25 tuổi.

    Năm 2005, Ngô Bảo Châu được đặc cách phong hàm giáo sư tại Việt Nam và trở thành giáo sư trẻ tuổi nhất nước (33 tuổi).

    Hiện mang hai quốc tịch Việt Nam và Pháp, giáo sư Ngô Bảo Châu chuẩn bị làm việc tại khoa Toán của trường Đại học Chicago, Hoa Kỳ từ ngày 1-9 tới.

    Chiều tối nay, Đại sứ quán Việt Nam tổ chức tiệc chào đón GS Ngô Bảo Châu và các nhà toán học VN đến dự ICM 2010 tại Ấn Độ.

    >> Xem phỏng vấn độc quyền của Tuổi Trẻ với GS Ngô Bảo Châu
    >> Xem phóng sự đặc biệt của Tuổi Trẻ về cuộc đời khoa học của GS Ngô Bảo Châu
    >> Chân dung Ngô Bảo Châu thời “nhất quỷ nhì ma”

    GS Châu là một trong 20 nhà toán học được mời trình bày báo cáo công trình khoa học và thành tựu nghiên cứu tại đại hội. Đồng thời ông cũng là một trong hai nhà khoa học dưới 40 tuổi được mời thuyết trình tại ICM 2010.

    Đánh giá của Liên đoàn Toán học thế giới khi trao giải thưởng Fields cho giáo sư Ngô Bảo Châu

    Ngô Bảo Châu nhận Giải Fields năm 2010 nhờ “chứng minh của ông về Bổ đề Cơ bản trong lý thuyết các dạng tự đồng cấu khi đưa vào những phương pháp hình học đại số mới”


    [IMG]


    Bản đánh giá của Liên đoàn Toán học thế giới Trong những năm 1960 và 1970 Robert Langlands đã phát biểu những cơ sở khác nhau thống nhất những nguyên lý và phỏng đoán (conjectures) liên quan đến các dạng tự đồng cấu trong các nhóm khác nhau, các biểu diễn Galois và các hàm L. Điều đó dẫn tới những vấn đề mà ngày hôm nay chúng ta gọi chung là Chương trình Langlands.

    Công cụ chủ yếu trong việc chứng minh một số trường hợp của những phỏng đoán này là công thức vết và trong khi áp dụng công cụ đó nhằm đáp ứng những mục đích kể trên, xuất hiện khó khăn trung tâm ngăn cản các nhà toán học: chứng minh sự đồng nhất (identities) tự nhiên trong giải tích điều hòa (harmonic – đồng điều) với các nhóm địa phương (local) cũng như các nhóm liên quan tới các đối tượng của hình học số (arithmetic geometric). Vấn đề này được biết đến với tên gọi Bổ đề Cơ bản. Sau nhiều tiến bộ với một loạt nghiên cứu vào năm 2004. Laumon và Ngô đã chứng minh được bổ đề cơ bản cho một lớp nhóm riêng, và bây giờ Ngô chứng minh được Bổ đề một cách tổng quát.
    Chứng minh kiệt xuất của Ngô cho những dự báo rất quan trọng và đã tồn tại rất lâu dài này dựa một phần trong việc đưa những kỹ thuật và đối tượng (objects) hình học mới vào giải tích sophisticated. Thành tựu của ông, nằm trên giao điểm của hình học đại số, lý thuyết nhóm và các dạng tự đồng cấu, dẫn tới nhiều tiến bộ có tính đột phá trong chương trình Langlands cũng như trong các lĩnh vực liên quan tới chương trình này.


    [IMG]
    [IMG]
    Giáo sư Ngô Bảo Châu trên đường vào Trung tâm Hội nghị quốc tế Hyderabad - Ảnh: Hoài Linh - Tuổi Trẻ
    GS Ngô Bảo Châu đã lập một kỳ tích và mang lại vinh quang đặc biệt cho đất nước, góp phần làm rạng danh nước Việt. Trong suốt 74 năm qua, châu Á mới có một quốc gia duy nhất có công dân được nhận giải này là Nhật Bản (vào các năm 1954, 1970 và 1990).
    52 nhà toán học từng đoạt giải Fields


    [IMG]

    Mặt trước của huân chương Fields có hình của nhà toán học Archimedes

    Giải thưởng Fields do nhà toán học Canada John Charles Fields sáng lập lần đầu được trao vào năm 1936 và từ năm 1950 được trao đều đặn. Mục đích của giải thưởng là sự công nhận và hỗ trợ các nhà toán học trẻ đã có những đóng góp quan trọng cho toán học. Sau đây là danh sách 52 nhà toán học từng đoạt giải Fields:
    2010: Elon Lindenstrauss (Israel), Ngô Bảo Châu (Việt Nam), Stalislav Smiarnov, (Thụy Sĩ) và Cedric Villani (Pháp)
    2006
    : Terence Tao (Úc/Mỹ), Grigori Perelman (Nga), Andrei Okounkov (Nga/Mỹ), Wendelin Werner (Pháp)
    2002
    : Laurent Lafforgue (Pháp), Vladimir Voevodsky (Nga/Mỹ)
    1998
    : Richard Ewen Borcherds (Anh), William Timothy Gowers (Anh), Maxim Kontsevich (Nga), Curtis T. McMullen (Mỹ)
    1994
    : Efim Isakovich Zelmanov (Nga), Pierre-Louis Lions (Pháp), Jean Bourgain (Bỉ), Jean-Christophe Yoccoz (Pháp)
    1990
    : Vladimir Drinfeld (Liên Xô), Vaughan Frederick Randal Jones (New Zealand), Shigefumi Mori (Nhật Bản), Edward Witten (Mỹ)
    1986
    : Simon Donaldson (Anh), Gerd Faltings (Tây Đức), Michael Freedman (Mỹ)
    1982:
    Alain Connes (Pháp), William Thurston (Mỹ), Shing Tung Yau (Trung Quốc/Mỹ)
    1978
    : Pierre Deligne (Bỉ), Charles Fefferman (Mỹ), Grigory Margulis (Liên Xô), Daniel Quillen (Mỹ)
    1974
    : Enrico Bombieri (Ý), David Mumford (Mỹ)
    1970
    : Alan Baker (Anh), Heisuke Hironaka (Nhật), Sergei Petrovich Novikov (Liên Xô), John Griggs Thompson (Anh)
    1966
    : Michael Atiyah (Anh), Paul Joseph Cohen (Mỹ), Alexander Grothendieck (Pháp), Stephen Smale (Mỹ)
    1962
    : Lars Hörmander (Thụy Điển), John Milnor (Mỹ)
    1958:
    Klaus Roth (Anh), Rene Thom (Pháp)
    1954
    : Kunihiko Kodaira (Nhật Bản), Jean-Pierre Serre (Pháp)
    1950:
    Laurent Schwartz (Pháp), Atle Selberg (Na Uy)
    1936
    : Lars Ahlfors (Phần Lan), Jesse Douglas (Mỹ)

    Nguồn: wikipedia


    Ngô Bảo Châu và kỳ vọng toán học VN
    Mời giáo sư Ngô Bảo Châu về Việt Nam làm việc
    Những người bạn lớn của toán học VN
    Ngô Bảo Châu sản phẩm đặc biệt của A0
    Đôi cánh gia đình
    GS Ngô Bảo Châu: Trong khoa học, không có gì bạn làm một mình

    Ngô Bảo Châu đang ở trên đỉnh cao trong nửa đầu sự nghiệp


    TTO, với tường thuật của THANH HÀ từ Ấn Độ

Chia sẻ trang này