1. THÔNG BÁO TUYỂN ADMIN DIỄN ĐÀN 2013
    Tìm kiếm nhà trọ - Ở ghép
    THÔNG BÁO BÁN ÁO SPKT.NET CHO THÀNH VIÊN DIỄN ĐÀN


    HÃY TÌM KIẾM Ở ĐÂY TRƯỚC KHI ĐẶT CÂU HỎI
    {xen:phrase loading}

Cuộc chiến tranh lần thứ năm giữa ả rập và israel

Thảo luận trong 'Phóng sự-tài liệu' bắt đầu bởi Long4ndShort, 14 Tháng tư 2012.

  1. Long4ndShort New Member

    Số bài viết: 11
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 1
    http://vietcatholic.net/News/Html/36513.htm

    Đã hơn một tháng qua, thế giới chú tâm theo dõi cuộc chiến tranh lần thứ năm giữa người Ả Rập và Israel đang diễn ra. Cuộc chiến chẳng những gây thiệt hại nhiều mặt cho đôi bên mà còn làm ảnh hưởng sâu xa tới đời sống cho toàn thế giới.

    Để giúp cho chính bản thân có sự hiểu biết thời sự từ ngọn nguồn, chúng tôi truy tìm những nét chính về lịch sử và bối cảnh cuộc xung đột của hai dân tộc Israel và Ả Rập tại Palestine. Nhân tiện, chúng tôi xin gửi những gì đã tìm kiếm được tới qúy vị nào cũng đang quan tâm thời sự để cùng chia sẻ. Chúng tôi sẽ cố gắng không đưa ra những phán đoán cá nhân hoặc chọn đứng về phe phái nào, hoặc tôn giáo nào.

    Cuộc chiến lần thứ năm giữa người Ả Rập và Israel bắt đầu nổ ra ngày 25 tháng 6 khi quân đội Israel tấn công dải Gaza, lấy lí do vì chiến binh Hamas bắt một binh sĩ Israel. Rồi ngày 12 tháng 7, Israel lại mở mặt trận khác đánh vào mạn Nam nước Lebanon vì nhóm du kích Hezbollah giết chết 8 binh sĩ Israel và bắt đi 2 binh sĩ.

    Tin chiến sự xác nhận sự thiệt hại nhân mạng của cả hai bên, dân sự cũng như quân sự, càng ngày càng tăng. Cuối tháng trước, nhân vật thứ hai của nhóm Al- Qaida sau Osama bin Laden là Ayman al-Zawahri lên tiếng kêu gọi thế giới Hồi giáo hiệp nhất đánh kẻ thù của tôn giáo: ‘Toàn thế giới là mặt trận mở ra trước mắt chúng ta…Đây là cuộc thánh chiến (Jihad) vì Thượng đế và sẽ kéo dài đến khi tôn giáo chúng đạt thắng lợi từ Tây Ban Nha tới Iraq. Chúng ta sẽ tấn công khắp mọi nơi…’ (Tây Ban Nha đã bị người Hồi giáo Ả Rập thống trị từ năm 711, buớc sang thế kỉ 16 họ mới bị mất quyền kiểm soát ở đây).

    Thât vậy, thế giới đã đặt tên cho vùng Trung Đông là ‘miền đất nổi giận’ bới vì từ sau cuộc đại chiến thứ hai cho tới nay, ít có ngày nào mà miền đất này không xẩy ra chiến tranh, khủng bố, bắt giữ con tin, tàn phá, và bao giờ cũng dính líu với người Ả Rập và người Israel.

    Người Ả Rập liên kết với nhau do có chung một ngôn ngữ, một lịch sử và một nền văn hóa. Họ không hoàn toàn có chung một niềm tin. Tại Morocco, Algeria, Tunisia, Libya và ở các nước Trung Đông hầu hết họ là tín đồ Hồi giáo, nhưng cũng có dăm triệu người theo Kitô giáo, như ở tại Ai Cập và Lebanon. Hồi thế kỉ 19, họ nằm dưới sự cai trị của đế quốc Ottoman, Pháp, Anh. Sang thế kỉ 20, các đế quốc tan rã và nhiều quốc gia giành được độc lập. Giữa hai cuộc đại thế chiến, tân quốc gia Israel ra đời giữa miền đất đa số là các người Ả Rập khiến cho thế giới Ả Rập giận dữ.

    HAI DÂN TỘC MỘT ĐẤT NƯỚC

    Nguyên do chính gây nên xung đột ở Trung Đông là vấn đề khát vọng hình thành một quốc gia riêng của hai dân tộc Israel và Ả Rập trên mảnh đất Palestine.

    Khát vọng này thật khẩn thiết và chính đáng. Bởi vì một dân tộc vô tổ quốc luôn bị coi là công dân hạng hai. Lịch sử đau thương của dân tộc Israel và ngưởi Ả Rập sống trên đất Palestine khiến cho cả hai coi vấn đề lập quốc là mục tiêu hàng đầu và họ sẵn sàng sống chết cho mục tiêu này.

    Palestine khởi đầu tên là Canaan có dân tộc Semite sống ở đây; sau bị dân tộc Philistin từ Crete tới chiếm lấy miền ven biển và đặt tên là Palestine. Tiếp theo có một dân tộc thứ ba tới đinh cư ở Canaan, đó là dân tộc Hebrew cũng thuộc dòng Semite.

    Lịch sử dân Hebrew bắt đầu 4,000 năm trước với tổ phụ Abraham. Abraham là người thành Ur, xứ Chaldea (nay là Iraq) di cư tới định cư ở đất Canaan. Jehovah phán ‘Ta ban cho ban đất này cho con cháu ngươi’ (Genesis 11:31—12:7). Do đó Abraham trở thành tổ phụ của dân tộc Do Thái. Dòng dõi Abraham nổi bật lên những tên tuổi tiêu biểu nối tiếp nhau như Isaac, Jacob (sau đổi tên là Israel (Genesis 32: 27-29), Joseph (đại quan nước Ai Cập), Moses (đưa dân Do Thái từ Ai Cập về lại Đất Hứa vào năm 1266 trước công nguyên), Joshua (người thật sự chiếm lại được xứ Canaan làm Đất Hứa cho ‘con cái Israel’ tới định cư). Sau khi định cư dân Do Thái mới nghĩ tới việc lập một vị quốc vương và vị quốc vương đầu tiên của dân Do Thái là Saul. Sau Saul đến David, người mở rộng bờ cõi và xây dựng kinh đô Jerusalem. Con David là Salomon, đây là thời vàng son của nước Israel. Khoảng năm 930 trước T.L., Salomon qua đời, đất nước chia đôi: Israel ở miền Bắc, Judea ở miền Nam. Miền Bắc bị Assyria chiếm năm 722 trước T.L., miền Nam bị Babylon chiếm năm 586 trước T.L., thành Jerusalem bị tàn phá, đa số dân chúng bị đầy sang Babylon. Nhờ đại vương Ba Tư là Cyrus, dân Do Thái được trở về cố hương gây dựng lại tổ quốc và sống an lạc được 200 năm (538-333 trước T.L.). Đến thời đại đế Hi Lạp Alexander đánh bại đế quốc Ba Tư thì Israel lại đổi chủ. Sau thời đế quốc Hi Lạp, Israel lại lệ thuộc Syria. bị Syria ngược đãi, dân Israel nổi dậy đánh đuổi người Syria, chiếm lại thành Jerusalem vào năm 164 trước T.L. và sống an bình được một thế kỉ. Năm 63 trước T.L., đế quốc Roma chiếm xứ Judea. Chúa Jesu giáng thế vào đời vua Herod làm vua xứ Judea. Người Roma đặt tên mới cho ‘con cháu Israel’ là Jews có nghĩa là người xứ Judea, tiếng Tầu phiên âm thành là Do Thái. Người Roma cai trị tàn ác khiến người Do Thái khởi nghĩa nhiều lần nhưng bị dập tắt, đền thờ Jerusalem lại bị phá hủy, đổi tên nước Israel thành Palestine như cũ. Người Roma còn xua đuổi hầu hết người Do Thái ra khỏi vùng này. Từ đó dân tộc Do Thái mất nước và phải phiêu bạt khắp tứ phương thiên hạ. Khi đế quốc Roma sụp đổ, Palestine lệ thuộc Byzance, Damas, rồi Thổ Nhĩ Kì. Có một điếu rất lạ lùng là từ ngày dân tộc Do Thái trở thành một dân tộc không có đất nước thì chính xứ Israel cũng trở thành một vùng không có quốc gia. Nghĩa là mặc dù sẽ có nhiều nhóm dân tộc tới xứ này cư ngụ sinh sống nhưng không một dân tộc nào tạo nổi cho mình một quốc gia bền vững.

    Người La Mã, người Ba Tư rồi người Ả Rập thay nhau cai trị xứ này, nhưng họ coi Palestine chỉ là một thuộc địa xa xôi không đáng quan tâm khai thác.

    Năm 637, người Hồi giáo Ả Rập xâm chiếm Palestine. Họ đối xử tương đối tốt với người Do Thái. Nhưng đoàn quân thánh chiến Kitô giáo từng chiếm đóng nhiếu nơi trên đất Palestine từ năm 1099 tới 1291 và đã truy quét không thương xót người Do Thái.. Sau đó đến thời Palestine bị người Hồi giáo Thổ Nhĩ Kì cai trị rất lâu dài: Thời đế quốc Mamluks (1291-1516) và thời đế quốc Ottomans (1517-1917). Quân Thô đối xử thân thiện với Do Thái giáo. Họ còn chứa chấp những tín đồ Do Thái giáo bị Kitô giáo Âu châu bách hại. Vào khoảng năm 1800, có thể nói đa số dân cư của thành Jerusalem là người Do Thái.

    Sau thế chiến thứ nhất, vùng đất này thoát khỏi sự thống trị nhiều thế kỉ của đế quốc Thổ do mệnh lệnh của Hội Quốc Liên (the League of Nations) và lại được mang tên Palestine.

    Mặc dù vẫn thường xẩy ra những biến cố kì thị chủng tộc cũng như tôn giáo, nhưng nói chung, người Do Thái và người Ả Rập đã sống chung hài hòa với nhau dưới quyền cai trị của đế quốc Thổ.

    Tuy nhiên người Do Thái cư ngụ ở các nơi trên thế giới vẫn không ngừng bị khinh miệt, kì thị, khủng bố, xua đuổi và bị sát hại. Nhất là tại những nơi Đức quốc xã nắm quyền thì số phận của người Do Thái cực kì bi thảm. Từ đó càng khiến cho người Do Thái phiêu bạt tìm đủ mọi cách, dù phải liều mạng để trở về cố hương.

    Đương nhiên diễn tiến này làm cho người Ả Rập đi từ lo ngại tới tức giận. Cuối cùng việc phải tới đã xẩy ra. Hồi 16 giờ ngày 14 thánh 5 năm 1948 Ben Gourion tuyên bố thành lập quốc gia Do Thái lấy tên cũ là Israel. Lập tức liên quân Ả Rập gồm có Ai Cập, Trasjordanie, Iraq, Syria và Lebanon tấn công Israel từ mọi phía. Đó là cuộc chiến tranh thứ nhất giữa Israel và người Ả Rập. Người Do Thái tuy ít về dân số nhưng vượt trội về tài năng, tổ chức, kỉ luật, tài chánh và một ý thức chiến đấu để tự tồn. Đang khi các nước Ả Rập không muốn có một nước Israel trên bản đồ vùng Trung Đông, và khi có rồi thì muốn xóa tên nhà nước Do Thái đó trên bản đồ. Riêng về người Ả Rập sống trên mảnh đất Palestine thì họ phải chiến đấu để có riêng cho họ một nhà nước và quốc gia ấy phải trải rộng hơn để tương xứng với số dân đông hơn của họ. Nguyện vọng này cho tới nay họ chưa thực hiện đưọc. Và cuối cùng là sự quyết tâm của cả hai bên để chiếm lấy cho mình thành cổ Jerusalem là thành thánh linh thiêng đối với cả hai dân tộc. Vì những lí do kể trên. Có thể nói, cả hai dân tộc luôn luôn ở trong tình trạng chiến tranh. Những trận chiến vào các năm 1948, 1956, 1967, 1973 và trận chiến hiện đang diễn ra chỉ là những cao điểm của sự thù địch muốn tiêu diệt nhau vẫn hằng chất chứa âm ỉ sâu xa trong lòng của cả hai dân tộc mà thôi.

    HÃY KHÓC LÊN HỠI THÂN PHẬN DÂN TỘC ISRAEL

    Một dân tộc bị nạn ngoại xâm hoặc bị nạn mất nước rồi bị lưu đầy phiêu bạt thì luôn luôn phải chịu những nỗi thống khổ đắng cay vô bờ bến. Huống chi trường hợp dân tộc Do Thái đã phải chịu cả hai nạn ấy, vừa liên tục bị nạn ngoại xâm vừa bị cảnh phiêu bạt tứ tán khắp nơi, cho nên nỗi thống khổ của dân tộc này chồng chất không bút nào tả xiết.

    Hai lần bị phiêu bạt tứ phương:

    Lần thứ nhất: Ngay từ năm 722 trước T.L., dân tộc Do Thái đã bị lưu đầy. Thời đó dân tộc Do Thái chia ra 2 tiểu quốc. Tiểu quốc phương Bắc là Israel bị Assyria xâm lăng và đấy hàng ngàn người Do Thái đi Trung Á. Tiều quốc phương Nam là Judea cũng bị Babylon tiêu diệt và bắt đi hàng vạn tù nhân Do Thái. Từ nơi lưu đầy người Do Thái đã than khóc: Bên bờ sông Babylon, ta ngồi ta khóc ta nhớ Sion…(Thánh Vịnh 137).

    Lần thứ hai: Dưới ách đô hộ của người Roma, dân Do Thái đã liên tục nổi dậy. Năm 70, quân đội Roma đốt phá tan tành thành Jerusalem và xua đuổi người Do Thái ra khỏi xứ sở của họ. Một phần tản mác khắp vùng Tiểu Á, một phần đi châu Âu, Bắc Phi, Ethiopia. Chỉ còn một số rất nhỏ ở lại được và chung sống với người Ả Rập.

    Thân phận kẻ lưu đầy

    Ban đầu ở các nơi, người Do Thái sống riêng rẽ, giữ tôn giáo riêng cho nên tuy có bị đối xử phân biệt nhưng chưa đến nỗi bị hà hiếp quá đáng.

    Thời Trung cổ, tương đối được an thân.

    Tại các nước Hồi giáo: Khoảng hơn 1 triệu người Do Thái sống tại các nước Hồi giáo. Số phận không quá bi đát. Ở Ba Tư, người Do Thái bị coi là tiện dân, hễ đụng tay vào đâu là cái đó bị coi là dơ bẩn; không được mở cửa hàng buôn bán; phải sống trong những mellahs là khu dành riêng cho người Do Thái. Ở Marốc, người Do Thái bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, không được pháp luật che chở. Ở Yemen, người Do Thái không được nói lớn tiếng trước người khác; phải đứng dậy trước mặt người Hồi giáo; không được động vào ai; không được buôn bán cùng thứ hàng hoá với người bản xứ; cấm mặc đồ màu lợt; không được mang vũ khí; không được ra khỏi khu Do Thái trước khi mặt trời mọc.

    Tóm lại, người Do Thái sống ở các nước Ả Rập tuy có bị phân biệt đối xử, nhưng không đến nỗi quá đáng và cũng mới chỉ bị kì thị vì lí do kinh tế, lí do xã hội, chứ chưa phải là vì lí do tôn giáo như ở Âu châu.

    Tại các nước Âu châu: Từ khi có những chiến dịch Thập Tự Quân, ở Âu châu, người Do Thái bắt đầu bị xua đuổi tàn sát thê thảm. Trong cuốn Naissance d’Israel (Gallimard, 1857), tác giả Chaim Weizmann (tổng thống đầu tiên của Israel) đã liệt kê những biến cố đàn áp lớn mà dân tộc của ông đã phải chịu:

    1138: Bọn Alhomade tàn sát người Do Thái ở Tây Ban Nha .

    1182-1198 vua Philippe Auguste lưu đầy ‘bọn Do Thái.’

    1189: Thập Tự chinh lần thứ ba. Người Do Thaí ở Anh bị tàn sát.

    1215: Giáo chủ Innocent III bắt người Do Thái phải đeo một cái bánh xe nhỏ trước ngực.

    1254: Vua St Louis lưu đầy người Do Thái.

    1290: Người Do Thái bị nước Anh trục xuất.

    1330-1338: Người Do Thái bị tàn sát ở Đức.

    1348: Nhân có nạn bệnh dịch hạch hoành hành ở Âu châu, người ta đổ tôi cho người Do Thái và tàn sát họ.

    1391: Người Do Thái bị tàn sát ở Seville và bắt buộc cải giáo ở Tây Ban Nha.

    1394: Vua Charles VI lại lưu đấy người Do Thái.

    1421: Người Do Thái bị trục xuất khỏi Vienne.

    1492: Người Do Thái bị trục xuất khỏi Tây Ban Nha.

    1495: Người Do Thái bị trục xuất khỏi Lithuanie.

    1498: Người Do Thái bị trục xuất khỏi Bồ Đào Nha.

    1516: Thành lập ghetto đầu tiên ở Venise.

    1563-1656: Người Do Thái bị tàn sát ở Ukraine, Đức, Ba Lan và Áo.

    1679: Người Do Thái bị trục xuất khỏi Vienne.

    1740: Người Do Thái ở Prague bị lưu đấy.

    1768: Nhiều vụ pogrom xẩy ra ở Ukraine.

    1827: Nga hoàng Nicolas I bắt trẻ em Do Thái cải giáo.

    1866: Nhiều vụ pogrom xẩy ra ở Roumanie.

    1883: Nhiều vụ pogrom xẩy ra ở Nga.

    1891: Người Do Thái bị trục xuất khỏi Moscou.

    1894: Vụ án Dreyfus.

    1903: Một vụ pogrom xẩy ra ở Kichinev )Roumanie).

    1905: Nga thua Nhật. Cách mạng nổi lên ở Nga. Người ta đổ mọi tội lên đầu người Do Thái. Nhiều vụ pogrom xẩy ra vào thánh 10.

    1919-1921: nhiều vụ pogrom xẩy ra ở Nga.

    Ngay từ năm 1096, trước khi gia nhập Thập Tự quân đi giải phóng mộ của Chúa, người Âu châu đã từng rủ nhau tới tàn sát ngưòi Do Thái vì tội người Do Thái đã giết Chúa! Thật vậy, suốt 10 thế kỉ, người Do Thái ở các nước Âu châu đã chịu nhiều thống khổ: bị cấm làm nhiều nghề, phải đóng thuế rất nặng, có khi bị tịch thu tài sản, bị xua đuổi, bắt phải cải giáo, nhiều nơi bị bắt phải tập trung sống trong ghetto là khu dành riêng cho người Do Thái, nhiều nơi bị nạn pogrom (tiếng Nga, có nghĩa là bạo hành, phá hủy) tức là lấy một cái cớ nào đó rồi người ta kéo tới khu Do Thái đốt phá, chém giết bừa bãi. Kết quả những cơn bách hại không tiêu diệt được tinh thần người Do Thái, trái lại, càng làm cho họ đoàn kết hơn, kiên vững hơn trong tinh thần và trong đức tin tôn giáo.

    Nạn kì thị chủng tộc:

    Nguời Do Thái đã chịu quá nhiều đau khổ bên Âu châu kể từ thời Trung cổ, nhưng những đau khổ ấy chưa thấm tháp vào đâu so với những gì họ phải chịu trong thời Đức quốc xã do Hitler lãnh đạo lên nắm quyền tại Âu châu từ 1933 cho tới khi đại chiến thế giới lần thứ hai chấm dứt vào năm 1945. Cuộc bách hại lần này có tính toán kĩ lưỡng hơn, có kế hoạch quy mô và ‘khoa học’ hơn cho nên người Do Thái phải chịu sự tổn thất, nhất là về nhân mạng, vô cùng kủng khiếp.

    Để chuẩn bị chiến dịch tàn sát người Do Thái, Đức quốc xã đưa ra một lí thuyết kì thị chủng tộc. Tìm cách chứng minh ‘khoa học’ rằng chỉ có giống da trắng Âu châu là thượng đẳng… Giống Do Thái có máu xảo quyệt, ti tiện, keo kiệt, hay phản trắc (đổ tội giết Chúa!), không chịu sống hoà đồng, hay phản loạn (đổ tội ông tổ Cộng sản Karl Marx là người Do Thái).

    Thực hiện chiến dịch: Khởi đầu là những biện pháp kềm kẹp như cấm nhiều nghề, cấm vào rạp hát, cấm vào thư viện hay viện bảo tàng, cấm mướn người làm công, phải đính ngôi sao David lên áo… Sau đó tới đợt cướp hết tài sản của người Do Thái rồi tống cổ họ ra khỏi xứ. Những vĩ nhân cỡ Eistein, Freud, Stephan Weig… đều phải đào thoát đi Hoa Kì hoặc Anh quốc.

    Cao điểm chiến dịch là lệnh truy nã bắt bớ tập trung tất cả mọi người Do Thái tại Đức cũng như tại các nước Đức quốc xã đang chiếm giữ, dù là đã lai đến mấy đời. Khi đã bị bắt tập trung, người Do Thái bị coi như không còn là người: gia đình bị phân tán, chịu bạo hành, đói khát, rách rưới, giá lạnh, mắng chửi…

    Tàn ác nhất là chủ trương sát hại hết, sát hại tập thể người Do Thái. Bọn Đức quốc xã như không còn nhân tính, chúng coi mạng người Do Thái không bằng mạng một con vật. Tên mật vụ (SS.) Gebauer có cái ‘thú’ bóp cổ hoặc dìm nước trẻ em cho đến chết. Có tên nắm hai chân em bé, đưa lên cao và xé toạc ra. Tên khác tung một bé lên trời rối nhắm bắn. Tên Heinen thì xếp hàng một các nạn nhân để bắn ‘trổ tài’. Tên tướng Frank Jaekeln ‘lập thành tích’ trong 48 ngày giết chết 30,000 người Do Thái. Tận cùng của sự tàn ác là các trại tập trung kèm theo lò sát sinh tập thể, sản phẩm của trí tuệ, của khoa học. Nguyên trại Maidenneck đã giết 750,000 người; trại Chelmno giết 1 triệu người. Còn nhiều trại tập trung và lò sát sinh khác như: Dachau, Buchenwald, Mauthausen, Oranienbourg, Bliziny, Fossenberg, Natgweiler, Ravensbruck. Nhưng không đâu khủng khiếp bằng tại Aushwitz. Trại này đã giết chết 3 triệu người Do Thái. Khi Đức quốc xã thua trận, bọn họ đã để lại những núi giày, những phòng kính đeo mắt, những kho tóc, những kho răng vàng… mà bọn họ đã thu từ những nạn nhân bị sát hại trong các lò sát sinh.

    Sang năm 1944, Đức quốc xã nhắm chừng sẽ thua trận, sẽ bị người Do Thái trả thù, cho nên chúng đã chuyển 20,000 người Do Thái thuộc thành phần trí thức từ Tiêp Khắc về trại Birkeneau để thủ tiêu. Tại đây còn nhiều đợt sát hại kế tiếp. Cuối cùng trại Birkeneau đã giết chết 1,900,000 người Do Thái: gần 1 triệu người Do Thái Ba Lan, 50 ngàn người Do Thái Đức, 100 ngàn người Do Thái Hòa Lan, 100 ngàn người Do Thái Pháp và 200 ngàn người Do Thái Hung.

    Tổng kết con số người Do Thái bị Đức quốc xã sát hại lên tới 6 triệu người. Những người sống sót nhờ chạy thoát sang Anh hoặc sang Hoa Kì và các quốc gia khác không bị Đức chiếm đóng. Một số rút vào các bưng biền kháng chiến. Chỉ một số nhỏ ở lại còn sống sót nhờ được những người hảo tâm che dấu. Trường hợp em Ann Frank cũng được bạn cứu giúp và đã để lại cuốn nhật kí nổi tiếng của em.

    Kết thúc chiến tranh, năm 1946, tòa án quốc tế ở Nuremberg đã gọi tội ác sát hại người Do Thái của bọn Đức quốc xã là tội diệt chủng. Lịch sử nhân loại bị một chương đen tối nhất, đẫm máu kẻ vô tội nhất. Công lao hun đúc tinh thần của bao triết gia, bao văn sĩ, thi sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ…lừng danh Âu châu sao lại đưa tới kết quả chính người Âu châu đã phạm tội ác tấy trời như thế này. Thêm vào đó, chính những tên tội phạm và cả những kẻ a dua cộng tác đều là người Âu châu từng chịu ảnh hưởng văn hóa Kitô giáo lâu đời!

    Ngay Mai: Khát vọng hồi hương lập quốc và bàn tay lông lá của người Anh.
  2. Long4ndShort New Member

    Số bài viết: 11
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 1
    II - KHÁT VỌNG HỒI HƯƠNG LẬP QUỐC VÀ BÀN TAY LÔNG LÁ CỦA NGƯỜI ANH

    Bởi vì thân phận quá đau thương của dân tộc mất nước cho nên người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới luôn nhớ về cố hương. Mỗi ngày 3 lần họ cầu xin Chúa thương Jerusalem, thương Sion và thương họ, dắt họ về Đất Chúa.

    Cuối thế kỉ 19, nổi lên 2 phong trào làm rung chuyển cuộc sống hài hòa giữa người Do Thái và người Ả Rập trên mảnh đất Palestine, từ đó khơi nguồn sự đối đầu giữa hai dân tộc. Đó là phong trào chủ nghĩa quốc gia Do Thái (Zionism. Zion là tên cổ của Jerusalem) và phong trào chủ nghĩa quốc gia Ả Rập.

    Phong trào thiết lập quốc gia Do Thái đã là nguyên cớ gây nên những cuộc tấn công bạo lực nhắm vào cộng đồng Do Thái ở Nga các năm 1880. Tới năm 1882, một nhóm người Do Thái lưu vong nhóm họp ở Constantinople, tự nhận là ‘những người yêu mến Sion’ (Hovene Tsione). Họ ra tuyên ngôn hô hào ‘một quê nhà trên đất nước chúng ta. Lòng xót thương Chúa đã ban nó cho chúng ta. Nó là của chúng ta như đã ghi trong sử sách’.

    Những người này tin rằng Chúa đã ban Palestine cho người Do Thái. Vấn đề rắc rối ở chỗ, vào khoảng những năm 1880 hầu hết dân cư ở Palestine lại là người Ả Rập chứ không phải là người Do Thái. Và đây cũng là lí do của các tai biến về sau.

    Tại Pháp, năm 1894, xẩy ra vụ án xử oan ức viên sĩ quan gốc Do Thái tên là Alfred Dreyfus về tội làm gián điệp cho Đức khiến nhà van Emile Zola nhảy vào cuộc để ‘tố cáo’ (J’accuse, tên bài báo bất hủ của ông) và nhất là vì vụ án này mà ‘đức vua của Sion’’ (lời của Stefan Zweig) là Theodore Herzl xuất hiện.

    Đúng vậy, chủ nghĩa Zionism trở thành phong trào chính trị dưới sự lãnh đạo của một nhân vật ngưới Áo gốc Do Thái tên là Theodore Herzl (1860-1904). Ông đã tổ chức các cuộc hội nghị, thảo ra các kế hoạch trong cuốn thủ bản Quốc Gia Do Thái (The Jewish State). Trong sách có đoạn: ‘Người Do Thái muốn có một quốc gia của mình thì sẽ có quốc gia và xứng đáng có được quốc gia’.

    Sức mạnh tư tưởng của Herzl đã làm hồi sinh một dân tộc. Một Tổ chức Sion Thế giới (World Zionist Organization) đã thành hình vào năm 1897. Sau đó số người Do Thái di về Palestine tăng lên mau chóng.

    Đợt hồi hương lần thứ nhất: Từ 1880 có khoảng 24 ngàn người từ Ba Lan và Nga đã trốn theo đường bộ để lẻn về Palestine. Đang khi dân số dân Ả Rập ở Palestine lúc đó chỉ có khoảng nửa triệu đang sống chung với từ 50,000 tới 90,000 người Do Thái.

    Đợt hồi hương thứ hai diễn ra từ năm 1905: Lúc đó, Ngân hàng Do Thái và Qũy quốc gia Do Thái đã được thành lập và nhà tài chánh Do Thái Edmond de Rothschild tận tình giúp đỡ cho nên có tổ chức lo việc di chuyển, mua đất đai định cư cho người hồi cư. Năm 1911, kibboutz (nông trường Do Thái) đầu tiên được thành lập tại Deganiaăm 1909. Năm 1913, một nữ sinh viên tên Davorah Dayan trở về từ Ukaina, tình nguyện làm nghề nướng bánh cho 50 người tại kibboutz ở Degania và bà sẽ cống hiến cho tổ quốc Israel người con trai là vị tướng khét tiếng Moshe Dayan sau này.

    Rồi thành phố Tel Aviv toàn người Do Thái được xây dựng dọc theo cảng Jaffa (the Port of Jaffa) đánh dấu mối lo ngại có sự phân cách giữa người Do Thái và người Ả Rập. Dân Do Thái mới di cư về thường tìm cách mua đất của người Ả Rập và thành lập những cộng đồng Do Thái riêng rẽ. Chỉ ở tại các thành phố lớn, người Do Thái mới sống chung với người Ả Rập.

    Về phía người Ả Rập họ đã phản ứng việc di dân về đất Palestine của người Do Thái ngay từ đầu. Năm 1886, lần đầu tiên họ đã tấn công các trại định cư của người Do Thái. Năm năm sau họ xin chính quyền Thổ ngưng cho phép người Do Thái di về Palestine. Tới năm 1914, đã có 6 tổ chức chống chủ nghĩa Zionism, 4 ở Palestine, một ở Beirut và một ở Constatinople.

    Đợt hồi hương thứ ba:

    Thế chiến thứ nhất nổ ra làm cho vấn đề Palestine thêm phức tạp. Thế giới Ả Rập bắt đầu nhúng tay vào. Tháng 11 năm 1914, Anh tuyên chiến với Thổ vì Thổ là đồng minh của Đức. Lúc đó Nga và Pháp chưa có quân ở Trung Đông. Nhưng vì quá nhiều quyền lợi, cho nên quân Anh đã kiểm soát Ai Cập và những yếu điểm ở cuối bán đảo Ả Rập để bảo vệ kênh Suez và hải lộ đi Ấn Độ là thuộc địa quan trọng nhất của Anh. Đồng thời Anh cũng không muốn miền Trung Đông dầu mỏ nằm trong tay những thế lực thù nghịch.

    Kế hoạch của Anh lúc đầu đã gặp trở ngại. Vào thời điểm ấy đế quốc Thổ còn kiểm soái tới Aqaba và Mecca bên bờ Hồng Hải và về phía Đông tới tận Basra (Iraq) trên đỉnh của vịnh Ba Tư. Người Thổ đã cai trị vùng này nhiều thế kỉ, họ hiểu rất rõ và họ có kinh nghiệm chiến đấu trong địa hình khí hậu cực nóng của vùng này. Vì thế quân Thổ đã đánh bại liên quân Anh Ấn trong trận Kut thuộc vùng Mesopotamia (Iraq). Thất bại này khiến Anh phải tìm đồng minh nếu muốn thắng lợi. Người Anh đã tìm đồng minh nơi người Ả Rập.

    Mc Mahon-Hussein: Năm 1915, Cao ủy Anh ở Ai Cập là Sir Henry Mc Mahon bắt tay với tổng binh Mecca là Hussein ibn Ali và hứa hẹn cho ông này một quốc gia độc lập. Năm 1918, Hussein cùng tướng Edmund Allenby đánh bại quân Thổ, tiến vào Damascus (nay là Syria). Và Husein đòi Anh phải thực hiện lời hứa. Người Anh không đáp ứng yêu cầu của Hussein lấy cớ trong những lá thơ trao đổi hứa hẹn của Mc Mahon với Hussein không đề cập tới vùng đất phía Tây sông Jordan, không có từ nào như là Palestine, Jerusalem hay Jews!

    Anh-Pháp và Thỏa ước Sykes - Picot: Thế chiến thứ nhất nổ ra ít lâu, Anh và Pháp tin là sẽ thắng nên họ đã bàn với nhau để chia chác lãnh thổ đế quốc Thổ Ottoman. Kế hoạch bí mật này nằm trong Thỏa ước Sykes - Picot do Sir Mark Sykes và Charles Georges-Picot soạn thảo và hai chính phủ Anh, Pháp đã chấp thuận năm 1916. Theo Thỏa ước, vùng đất Ả Rập thuộc đế quốc Otoman sẽ chia ra 5 phần. Một số nằm trực tiếp dưới quyền Anh, Pháp, một số sẽ thành các quốc gia Ả Rập nhưng nằm trong vòng ảnh hưởng của Anh, Pháp. Cuối cùng là vùng đất, gần giống lãnh thổ Palestine ngày nay, chung quanh những thánh địa, sẽ nằm dưới quyền kiểm soát chung của Anh, Pháp và Nga. Thỏa ước hoàn toàn không đả động tới vùng đất nào cho người Do Thái, cũng chẳng có vùng nào cho Hussein như người Anh đã hứa hẹn.

    Người Anh còn một cam kết riêng rẽ khác với người Do Thái sẽ gây rắc rối thêm cho vấn đề Palestine sau này: Chỉ sau Thỏa ước Sykes-Picot (1916) một năm, nhận thấy tình hình chiến sự chưa sáng sủa cho nên vào tháng 11 năm 1917, bộ trưởng ngoại giao Anh là Arthur Balfour đã viết thư cho Chiam Weizmann, người đứng đầu phong trài Zion. Trong thư, Balfour cam kết chính phủ Anh sẽ thành lập một nhà nước cho dân tộc Do Thái trên đất Palestine. Bức thư này được mệnh danh là Bản Tuyên Ngôn Balfour. Lời cam kết này mâu thuẫn với Thỏa ước Sykes – Picot cũng như với lời hứa hẹn của Mc Mahon với Hussein. Có 3 lí do khiến bộ trưởng Balfour đưa ra lời cam kết: Thứ nhất vì Anh đang cần sự ủng hộ của các danh nhân chính khách gốc Do Thái ở chính quốc, ở Hoa Kì và ở Nga. Thứ đến, Anh cần có một quốc gia thân thiện trong vùng phía Đông Địa Trung Hải để thêm an toàn cho kênh Suez và là trái đệm giữa Syria thuộc Pháp và Ai Cập thuộc Anh. Thứ ba, nhà lãnh tụ phong trào Zion là Chaim Weizmann rất thân tình với các nhà lãnh đạo trong chính phủ Anh quốc. Các vị này thương cảm số phận dân tộc Do Thái và muốn giúp đỡ họ.

    Có sự công nhận lập quốc của Anh, thanh niên Do Thái khắp nơi hăng hái tòng quân dưới lá cờ của Anh chiến đấu chống quân Thổ. Trong đoàn lính ‘lê dương’ từ Hoa Kì có David Ben Gourion sau này sẽ là vị thủ tướng đầu tiên lừng danh của Israel. Thấy tương lai lập quốc của người Do Thái tới gần, quân Thổ nổi giận và tàn sát ‘bọn Do Thái phản bội’ ở Palestine. Tới một nửa số dân Do Thái ở Palesrine bị sát hại trong đợt khủng bố kinh khủng này.

    Kết cuộc: Sau thế chiến thứ nhất, Hội quốc liên giao quyền ủy trị xứ Palestine cho Anh quốc. Anh quốc đã đưa ra 3 quyết định mâu thuẫn nhau: (1) giúp người Ả Rập tiết lập các quốc gia của họ ở Trung Đông; (2) phân chia vùng của Anh và vùng thuộc Pháp; (3) cho người Do Thái một quốc gia riêng trên lãnh thổ Palestine.

    Trong các cuộc hòa đàm năm 1919, không phài Thỏa ước Sykes – Picot mà là kế hoạch Anh – Pháp trở thành hiện thực. Nghĩa là Anh nắm lấy Iraq, Trasjordan và Palestine; còn Pháp kiểm soát Syria và Lebanon. Sau đó, Iraq độc lập năm 1932; Lebanon, Syria và Transjordan độc lập năm 1946.

    Riêng Palestine thuộc Anh vẫn không có giải pháp nào rõ rệt. Năm 1919, Chaim Weizmann và con trai của Hussein, tức Faisal (quốc vương Iraq sau này), có ý kiến phân chia Palestine làm hai: một cho người Ả Rập, một cho người Do Thái. Các nhà lãnh đạo Ả Rập không chấp nhận ý kiến này. Năm 1920, người Ả Rập tấn công các trại định cư của người Do Thái. Năm 1929 Faisal phủ nhận ý kiến đã nêu trên của ông. Người Anh cũng cũng nói họ chưa từng có ý biến Palestine thành quốc gia của người Do Thái. Thế là cả người Ả Rập lẫn người Do Thái đều mất tin tưởng vào Anh. Hậu quả là một tương lai xung đột giữa người Do Thái và người Ả Rập chắc chắn sẽ xẩy ra.

    Cuối năm 1920, có khoảng 10,000 người Do Thái di về. Họ tổ chức lực lượng phòng vệ có tên là Haganah và thành lập Tổng liên đoàn Lao động Do Thái (the General Federation of Jewish Labor) để phụ trách di cư và định cư. Thấy thế, người Ả Rập yêu cầu Anh cho thành lập Palestine tự trị hầu có thể đối phó với sự bành trướng đất đai mạnh mẽ của người Do Thái. Tuy người Anh từ chối lời thỉnh cầu của người Ả Rập, nhưng vào tháng 9 năm 1920, người Anh lại đưa ra hạn chế số người Do Thái được nhâp cư xuống 16,500 mỗi năm.

    Năm 1921, căng thẳng giữa người Ả Rập và người Do Thái giảm đi nhiều. Người Do Thái tiếp tục hồi hương đợt thứ 4 vào năm 1921 và đợt thứ năm vào năm 1928. Song tới năm 1929, lại xẩy ra nhiều cuộc bạo động chống lại người Do Thái. Cuộc bạo động tại Jerusalem ngày 23 tháng 8 năm 1929 chết 133 người Do Thái và 116 người Ả Rập cộng thêm với 110 người bị cảnh sát Anh bắn chết. Cả hai bên lên tiếng tố cáo người Anh về vụ này.

    Tới khoảng những năm 1930 thì người Anh hết còn khả năng kiểm soát nổi mối thù nghịch giữa người Ả Rập và người Do Thái. Lúc này, năm 1933, Quốc Xã lên nắm quyền ở Đức. Sự tàn ác của Đức quôc xã sẽ gây nên một tình hình mới đẩy sự thù hằn giữa người Ả Rập và người Do Thái lên tuyệt mức.

    Năm 1936, nhà lãnh đạo tinh thần của người Ả Rập ở Jerusalem lãnh đạo tổng công kích vào người Anh và người Do Thái, kể cả những người Ả Rập tỏ ra thân thiện với người Do Thái. Đương nhiên là người Do Thái phản công. Bắt buộc người Anh phải điều động 20,000 quân vào vùng rối loạn. Một sĩ quan Anh, Orde Wingate, còn thành lập những toán kích đánh đêm cho người Do Thái để tấn công các làng Ả Rập. Những toán đánh đêm của người Do Thái hành động tàn bạo không kém những gì người Do Thái đã tố cáo người Ả Rập đã gây cho họ.

    Những cuộc đụng độ vẫn tiếp diễn vào các năm 1938 và 1939. Người Anh vừa xử dụng quân đội vừa dùng ngoại giao để tái lập hòa bình. Một Hội đồng Hoàng Gia (Royal Commission) được thành lập năm 1936 để giám sát tiến trình thực thi việc ủy trị vùng Palestine. Kết quả là sang năm 1937, Hội đồng đệ trình bản báo cáo (the Peel Commission Report) đề nghị phân chia Palestine thành 3 phần: một tiểu quốc phía Bắc cho người Do Thái, một nước lớn hơn ở mạn Nam cho người Ả Rập, và một dải đất nhỏ chạy từ bờ biển vào tới các thánh địa nằm dưới quyền kiểm soát của người Anh. Người Ả Rập phản đối ngay lập tức. Họ quyết không nhượng một tấc đất nào mà họ cho là họ có quyền thừa kế từ tổ tiên họ. Do vậy bạo động tiếp tục xẩy ra giữa hai khối người này.

    Vì quyền lợi dầu lửa, người Anh tìm cách lấy lòng khối Ả Rập bằng cách hạn chế số người Do Thái di cư và hạn chế việc người Do Thái mua đất đai. Năm 1935, ước khoảng 60,000 người Do Thái di về. Năm 1936, con số giảm đi một nửa. Năm 1937 và 1938, còn giảm thêm nữa. Nhưng tới năm 1939, con số di cư lại tăng vọt tới 30,000 và hàng tá trại định cư mới được thiết lập. Thấy vậy người Anh ra lệnh cắt chỉ tiêu người Do Thái được nhập cư xuống còn 4,000 người một năm, số còn lại là bất hợp pháp bị tống xuất sang Cyprus và Mauritius. Điển hình là 2 chiếc tầu Strouma và Patria.

    Chiếc thứ nhất tên Strouma chỉ dài 20 mét mà chở tới 800 người Do Thái từ Âu châu chạy về được tới cảng Istanbul như một phép lạ. Nhưng người Anh bắt chính quyền Thổ phải trục xuất con tầu Strouma ra biển Hắc Hải không lương thực, không nước uống. Một cơn giông nhỏ đã đánh chìm con tầu. Chỉ có một người sống sót.

    Chiếc tầu thứ hai tên là Patria. Có 2 chiếc tầu nhỏ chở 2,000 người Do Thái cũng từ Âu châu tới đậu ngoài khơi cảng Hefa. Người Anh ra lệnh tập trung tất cả 2,000 người này lên tầu Patria chở sang đảo Mauritius. Con tầu này cũng chìm ngoài khơi không bao giờ cập bến!

    Để được công bình hơn, cũng phải nói thêm, vào khoảng thời gian giữa 1933 tới 1945, khi có làn sóng tị nạn Đức quốc xã, người Do Thái không chỉ gặp sự từ chối, hạn chế của người Anh mà còn bị nhiều nước khác hất hủi nữa. Ba Tây, Tây Ban Nha, Úc, Nam Phi đã giới hạn số dân tị nạn. Còn Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kì, Mexicô không cho nhập cảnh. Anh và Hoa Kì giới hạn số nhập cư bằng chỉ tiêu hằng năm. Năm 1941, quốc hội Hoa Kì bác bỏ đề nghị cho 20,000 trẻ em Đức gốc Do Thái nhập cư. Năm 1943, chính phủ Anh không chấp thuận lời kêu gọi bãi bỏ chỉ tiêu nhập cư của Tổng giám mục Canterbury. Cũng năm này, bộ ngoại giao Hoa Kì cho chìm xuồng kế hoạch của Thụy Điển nhằm cứu giúp 20,000 trẻ em Do Thái thoát ra khỏi nước Đức.

    Lịch sử còn nhớ mãi câu chuyện thương tâm về chiếc tầu St. Louis. Con tàu này chở 930 người Do Thái tị nạn, rời nước Đức ngày 13 tháng 5 năm 1939 trực chỉ Hoa Kì. Hầu hết số người này đã được chấp thuận được vào nước Mĩ trong vòng 3 năm và hiện họ nắm trong tay chứng nhận được lên đất Cuba. Nhưng Cuba chỉ cho 22 người lên bờ, không một người nào được bước lên đất Mĩ. Một số nước Nam Mĩ cũng không cho bất cứ ai lên bờ. Sang tháng 6, con tầu phải quay trở lại Âu châu. Anh, Hòa Lan và Bỉ đồng ý cho họ tị nạn. 287 người tị nạn ở Anh được đối xử như là tù nhân khi chiến tranh phát khởi, còn những người đổ bộ lên các nước Âu châu khác, chỉ trong một năm sau đó đã nằm trong tay Đức quốc xã, đương nhiên họ bị bách hại và nhiều người gị giết chết.

    Vậy thì đâu chỉ có Đức quốc xã mới nhúng tay vào máu của người Do Thái!

    Vì có những thảm cảnh như trong câu chuyện kể trên, đến năm 1945, lời kêu gọi lập một quốc gia cho người Do Thái dễ được nhiều nước đồng ý. Đang khi nguyện vọng lập quốc của người Ả Rập không được ủng hộ vì vị giáo chủ Hồi giáo ở Jerusalem đã từng tìm sự ủng hộ của Hitler.

    Còn tiếp.
  3. Long4ndShort New Member

    Số bài viết: 11
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 1
    [TABLE="class: ArticleContent, width: 920"]
    [TR]
    [TD="colspan: 2"]III - LÀM ĐỒNG MINH CỦA NGƯỜI ANH THẬT KHÓ

    Thế chiến thứ hai nổ ra với sự thắng thế ban đầu của Phe Trục (Đức, Nhật, Ý). Pháp bị Đức đánh chiếm. Anh bị oanh tạc tơi tả. Bên vùng Trung Đông và Bắc Phi, hổ tướng Đức EL là Rommel làm mưa làm gió, đe dọa các vùng ảnh hưởng của Anh và Pháp. Đánh gía hình nhậy bén cho nên cơ quan trung ương Do Thái ở Jerusalem, chỉ cn 10 phút hội họp, ađ4 quyết định kêu gọi tất cả nam giới tình nguyện gia nhập quân Anh để đánh kẻ thù chung là Đức quốc xã. Trong một tuần lễ đã có 130 ngàn thanh niên Do Thái, cả nam lẫn nữ, tòng quân chiến đấu. Quân Anh cần nhân lực, nhưng lại sợ nếu huấn luyện thuần thục cho số quân Do Thái này thì thế nào cũng có ngày quân Anh sẽ phải đương đầu với họ. Vì thế người Anh chỉ cho quân tình nguyện Do Thái đảm trách những công tác không tác chiến. Tuy nhiên người Anh không thể ngăn cấm những quân nhân gốc Do Thái mang quốc tịch Anh, Hoa Kì, Pháp…Trong số họ nổi bật lên những tên tuổi của tương lai Israel như David Ben Gourion, Moshe Dayan.

    Những người cầm súng đã chiến đấu anh dũng giúp đỡ quân đội đồng minh ở mặt trận Tây Á. Nhưng khi chiến tranh kết thúc, người Anh đã cố ý quên đi công lao của quân nhân Do Thái. Van Passen đã viết trong cuốn Người Bạn Đồng Minh Bị Bỏ Quên (L’Alliée oubliée): ‘Công góp sức của người Do Thái ở Palestine để chiến thắng tại Tây Á là một trong những bí mật được giữ kín nhất trong Thế chiến thứ nhì”. Vì quyền lợi dầu lửa, người Anh không muốn làm phật lòng khối Ả Rập. Vì thế Anh quốc tiếp tục phong tỏa gắt gao, không cho người Do Thái di cư về Palestine. Người Do Thái vỡ mộng và bất mãn với người Anh. Tuy vậy, người Do Thái vẫn quyết tâm hồi hương. Cán bộ Do Thái sang tận Ba Lan dùng tiền hối lộ các viên chức để dắt đồng bào của họ trốn về Palestine qua ngả Tiệp Khắc, tới Milan (Ý), xuống tầu Portes de Sion trực chỉ Toulon (Pháp) để đánh lạc hướng người Anh. Rồi họ bí mật lên tầu Terre Promise hướng về Palestine. Hải quân Anh dùng vũ lực bắt di dân Do Thái lên 3 chiếc tầu khác và quay trở lại Toulon. Mấy ngàn người Do Thái không chịu lên bờ ở Toulon. Họ ăn vạ nhiều tuần lễ trên tầu. Tới tuần lễ thứ tư, bắt đầu có người chết. Báo chí la hoảng. Cuối cùng người Anh ra lệnh đưa 2 chiếc tầu về cảng Hamburg (Đức), rồi nhốt vào trại Dachau của Đức quốc xã trước đây; chiếc tầu còn lại phải trở về đảo Cyprus, nhốt vào trại Carades. Thế là tái diễn cảnh nhốt người Do Thái vào những trại tập trung!

    Một vụ quyết tâm trở về khác rất nổi tiếng của người Do Thái, đó là vụ con tầu Exodus. Vụ này xẩy ra năm 1946, tại đảo Cyprus, Địa Trung Hải. Từ một trại tập trung mấy ngàn người Do Thái, Ben Canaan đã dùng mưu trí gạt được bọn lính gác người Anh, lừa cả viên giám đốc trại và trưng dụng xe của trại để chở 302 thanh thiếu niên Do Thái tuổi từ 10 tới 17 thoát ra khỏi trại giữa thanh thiên bạch nhật. Đoàn xe chạy xuyên qua đảo, tới Cyrenia. Tại đó các em xuống con tầu Exodus. Ngay khi biết tin, viên tướng người Anh tên là Sutherland tức tốc tới ra lệnh trong vòng 10 phút các em phải lên bờ, nếu không, ông sẽ dùng vũ lực. Dưới tầu trả lời là đã bố trí đầy chất nổ, nếu tầu bị tấn công, sẽ cho nổ tung con tầu, đồng thời thượng lên một lá quốc kì Anh quốc, ở giữa vẽ chữ ‘vạn’ vốn là biểu hiệu của Đức quốc xã. Dư luận khắp nơi trên thế giới xôn xao, lên án chính quyền Anh. Dân chúng Anh gay gắt chế diễu là bọn Anh trên đảo đã ngủ gục ban ngày tất cả! Một số viên chức ở Luân Đôn muốn cho tầu Exodus cập bến Palestine, nhưng người phụ trách vấn đề Ả Rập ở bộ ngoại giao Anh là Bradshaw can ngăn, cho nhượng bộ như thế là nhục. Do đó vấn đề còn nan giải. Trong tuần lễ đầu tiên, tinh thần trẻ em trên tầu rất cao. Chúng ca hát, chế diễu lính Anh trên bờ. Sang tuần thứ hai, báo chí xẹp dần, người ta khuyên Canaan nên dàn xếp. Ông cương quyết từ chối. Bắt đầu ngày thứ 16, Canaan tuyên bố trên tầu tuyệt thực. Khắp nơi lại nổ ra những cuộc biểu tình phản đối chính phủ Anh. Tuyệt thực tới giờ thứ 40, có 60 chục em mê man.Trước cảnh thương tâm này, một số lính người Anh xin chuyển đổi công tác. Giờ thứ 83, khoảng 10 em sắp tắt thở. Lúc đó Canaan gứi cho tướng Sutherland lời đe dọa, từ ngày hôm sau, cứ mỗi ngày, đúng 12 giờ trưa sẽ có 10 em tình nguyện tự tử trên boong trước mắt quân Anh. Sẽ tiếp tục tự tử hết cho tới khi tầu được phép về Palestine. Đến nước này, Bradshaw mới nhờ 10 nhà lãnh đạo người Do Thái ở các nơi nói giùm với Canaan cho ông ta thêm thời gian để tìm giải pháp. Nhưng các nơi đều từ chối. Canaan giữ vững lập trường: ‘Exodus rời bến hay không, chỉ có bấy nhiêu thôi. Bàn cãi chỉ vô ích’. Và ‘Hãy để cho dân tộc tôi đi’ (lời của Moishe nói với vua Ai Cập Pharaoh thuở xưa). Đang khi đó Bradshaw lại nhận được điện tín của các quốc gia Ả Rập: ‘ Nếu Anh cho tầu Exodus nhổ neo về Palestine tức là nước Anh xúc phạm các dân tộc theo Hồi giáo’. Bradshaw hoang mang tột độ. Sau cùng chỉ còn 3 giờ nữa tới kì hạn đợt tự tử đầu tiên, Bradshaw hải nhượng bộ cho phép tầu Exodus nhổ neo đi Palestine. Tin tức exodus nhổ neo lại lên trang đầu các báo. Mọi người thở phào nhẹ nhõm. Y tế Anh yêu cầu được lên tầu săn sóc các em trước khi khởi hành. Mưu trí và lòng can đảm của người Do Thái đã thắng vẻ vang ‘trận đánh’ này.

    Còn tiếp
    [/TD]
    [/TR]
    [/TABLE]




  4. Long4ndShort New Member

    Số bài viết: 11
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 1
    IV- SỰ HÌNH THÀNH QUỐC GIA ISRAEL, GIẤC MƠ NGÀN ĐỜI CỦA DÂN TỘC DO THÁI

    Sau vụ tầu Exodus, người Anh (với 200 ngàn lính) tiếp tục đàn áp người Do Thái (chỉ có nửa triệu dân) cách dã man không kém Đức quốc xã. Cũng bắt bớ, tra tấn, xử tử, treo cổ, ám sát. Chỉ còn thiếu lò hơi ngạt mà thôi. Mới ngày hôm qua còn là đồng minh, hôm nay đã là kẻ thù.

    Về phía người Do Thái, họ bị đặt vào thế đường cùng cho nên đã phản ứng mạnh mẽ, cảm tử và mưu trí. Do Thái có 3 lực lượng chính, hoạt động khác nhau, nhưng đều lập được những thành tích sáng chói: Tổ chức ‘Stern’: chuyên ám sát các sĩ quan và những nhân vật quan trọng. ‘Irgoun’: chuyên tốc chiến tốc thắng, đánh bất ngờ, đánh đặc công, đánh ngay vào bộ chỉ huy của Anh, cướp các kho vũ khí, bắt cóc các sĩ quan. Quan trọng nhất là đoàn ‘Haganah’: chuyên đảm trách công tác huấn luyện, tổ chức tác chiến, cung cấp vũ khí.

    Sau thế chiến thứ hai, Anh chưa lại sức, nay bị các lực lượng Do Thái làm cho càng kiệt quệ, nên đã phải mời Hoa Kì (nơi có nhiều người gốc Do Thái thành công và có uy tín lớn) để cùng tìm cách giải quyết vấn đề. Hai nước thành lập một hội đồng điều tra hoàn cảnh người Do Thái sau chiến tranh. Hội đồng này đề nghị Anh bãi bỏ lệnh hạn chế di cư và cho 100 ngàn người Do Thái được trở về Palestine. Anh bác bỏ. Liên đoàn Ả Rập (the Arab League) mới thành lập cũng lên tiếng phản đối.

    Ngoại trưởng Anh là Ernest Bevin đưa sáng kiến hội nghi bàn tròn tay ba: Anh, Ả Rập, Do Thái. Nhưng thất bại. Ả Rập không thèm ngồi chung với Do Thái. Không bên nào chấp nhận bên nào.

    Người Anh đã lỡ hứa cho người Ả Rập lẫn người Do Thái được độc lập, nay không biết giải quyết ra sao cho nên, ngày 14 tháng 02 năm 1947, đã tìm cách bán cái cho Liên Hiệp Quốc (LHQ). LHQ giao cho một ủy ban đảm trách vấn đề Palestine.

    Ngày 21 tháng 8 năm 1947, Ủy ban này đề nghị chia Palestine cho mỗi bên một nửa, nhưng hình thù ranh giới hai miền trông rất kì dị, nham nhở. Mặc dù thế, Do Thái vẫn nhận. Có hơn không. Phía Ả Rập nhất định không chịu.

    Ngày 29 tháng 11 năm 1947, Đại hội đồng LHQ bỏ phiếu chấp thuận sự chia cắt này. Hoa Kì và Liên Xô đồng ý. Anh phủ quyết.

    Người Ả Rập phản kháng quyết định của LHQ : ‘Đại Hội Đồng (LHQ) phân chia cái mà nó không có quyền phân chia. (Bởi vì) đó là một tổ quốc không thể phân chia được’. (Lời tuyên bố của lãnh tụ tương lai Yasir Arafat).

    Giải pháp bế tắc khiến người Anh chán nản, tuyên bố rút quân vào ngày 01 tháng 8 năm 1948.

    Khối Ả Rập cho việc chia cắt của LHQ là một hành động áp đặt thô bạo, không thể chịu nổi. Do đó, các nuớc thuộc khối Ả Rập hô hào chuẩn bị thánh chiến tiêu diệt Do Thái, bắt LHQ phải hủy bỏ quyết định ngày 29 tháng 11 năm 1947. Măc dù chiến tranh chưa thục sự bùng nổ giữa hai bên, nhưng các nước Ả Rập đã bắt đầu tuồn lực lượng vào phần đất của người Do Thái để đánh phá l3 tẻ: đốt phá, chém giết, phục kích, cắt đường. Ý đồ của họ là sẽ đánh úp Do Thái, ngay khi quân đội Anh triệt thoái.

    Về phía Do Thái cũng tích cực chuẩn bị để sẵn sàng đánh trả. Họ lén chuyên chở thêm vũ khí vào, chế tạo chất nổ, biến chế xe thường thành chiến xa, biến các tháp nước thành tháp canh, biến các hầm rượu thành hầm trú ẩn, mỗi kibboutz là một đồn tự vệ và từ đó xuất kích…Tháng 4 năm 1948, Do Thái gọi Ben Gourion từ một Kibboutz trở về để lãnh đạo trong tình thế hết sức căng thẳng. Ngày 12 tháng 4 năm 1948, Ben Gourion đưa ra lời kêu gọi thế giới: ‘Xin thế giới hãy cho Israel có quyền được tự cứu mình. Xin thế giới cho Israel được có tiếng nói riêng của mình, được sống đời độc lập’.

    Anh thấy rối ren quá đã tuyên bố rút quân sớm hơn 2 tháng rưỡi. Sang tháng 5, người Anh bàn giao 50 điểm chiến lược cho Ả Rập. Đúng 12 giờ một phút đêm 14 rạng ngày 15 tháng 5 năm 1948, quân Anh rút khỏi Jerusalem và các nơi khác. Họ lui sang đảo Cyprus chờ đợi khi Do Thái bị lâm nguy sẽ phải câu cứu họ.

    Được tin quân Anh sắp triệt thoái,Ben Gourion báo cho Hoa Kì biết ý định lập quốc của người Do Thái, xin Hoa Kì đừng can thiệp. Bộ trưởng ngaọi giao Hoa Kì là Marshall khuyên Do Thái đừng lập quốc vì chỉ có 650,000 dân sao có thể chống lại được 3,4 triệu người Ả Rập ở Palestine và cả khối các nước Ả Rập chung quanh. Ben Gourion cũng cho người sang xin quốc vương Tranjordan (người duy nhất trong khối Ả Rập có thái độ tương đối ôn hòa hơn đối với Do Thái) đứng trung lập, nhưng quốc vương không chịu.

    Hai vận động ngoại giao thất bại làm cho Ben Gourion khá bối rối. Thêm vào đó, ngày 12 tháng 5, 1,500 quân Ả Rập với xe tăng đại bác bắt đầu đánh vào Engion. Ben Gourion mời Ủy ban tối cao Do Thái gồm 13 nhân vật họp về việc lập quốc. Ủy ban đã bỏ phiếu chấp thuận. Ngày 14 tháng 5 năm 1948, hồi 16 giờ, Quốc hội Do THái họp tại Tel Aviv, Ben Gourion lên diễn đàn tuyên bố: ‘Tôi tuyên bố thành lập một quốc gia Do Thái Palestine. Kể từ hôm nayquốc gia đó lấy tên là Israel. Hỡi các đồng bào Do Thái ở khắp thế giới, xin các bạn nghe tôi đây. Các bạn đứng hết về phía Israel đi. Giúp cho quốc gia phát triển. Giúp dân tộc chiến đấu để thực hiện cái mộng ngàn năm của chúng ta, cái mộng cứu quốc và phục hưng Israel’.

    Ngay lập tức, cuộc chiến tranh thực sự lần thứ nhất giữa Israel và các nước Ả Rập chung quanh thực sự bùng nổ.

    CHIẾN TRANH ISRAEL-Ả RẬP LẦN THỨ NHẤT

    Chiều ngày 14 tháng 5 năm 1948, quốc gia Israel được thành lập. Nửa đêm hôm nay, quân Anh cũng triệt thoái khỏi Palestine.

    Các đạo quân Ả Rẩp cũng rầm rộ tiến vào Palestine, hướng về thủ đô Tel Aviv của Israel. Quân nước Transjordan từ Đông sang bao vây Jerusalem. Hai đạo quân Ai Cập tiến vào Gaza và Hebron. Iraq án ngữ Nam Galilee. Syria tấn công Tiberias và Safed. Lebanon đánh xuống Bắc Galilee, Haifa. Coi như Tel Aviv bị tấn công từ 3 mặt, mặt thứ tư là biển!

    Khối Ả Rập dự trù chỉ trong 10 này sẽ tiêu diệt Israel. Quốc vương Transjordan định ngày 25 tháng 5 sẽ vào Jerusalem. Thế giới cũng nghĩ Ả Rập mạnh gấp 10 lần Israel.

    Khởi đầu, Israel chới với. Dần dần họ củng cố lại được và bắt đầu đẩy lùi đạo quân của Lebanon và Iraq. Đạo quân Haganah tinh nhuệ của Israel thắng Ai Cập một trận lớn tại Fallouga. Quân Ai Cập phải đào tẩu trong hoảng loạn. Đạo quân của Transjordan bị Israel vây khốn ở gần Jerusalem.

    Sau trận Fallouga, LHQ mới can thiệp, ra lệnh ngưng chiến. Israel lợi dụng chỉnh đốn hàng ngũ. Phía Ả Rập tiếp tục tấn công. LHQ lại bắt Ả Rập ngưng chiến và phái chủ tịch Hồng Thập Tự quốc tế là bá tước Bernadotte tìm cách hòa giải. Bá tước Bernadotte đề nghị chia cắt Palestine lại, có lợi hơn cho người Palestine và thánh địa Jerusalem sẽ được quốc tế hóa. Không may, tổ chức ‘Stern’ của Israel nghĩ là Bernadotte thiên vị Ả Rập cho nên đã ám sát ông chết. Tình hình lại xấu đi. Hai bên lại đánh nhau rồi lại ngưng. Cứ như thế tới lần thứ tư mới thật sự đình chiến.

    Đầu năm 1949, lần lượt Israel kí 4 hiệp định đình chiến với 4 nước: Ai Cập, Syria, Lebanon và Tranjordan. Iraq không kí vì không có biên giới chung với Israel. Biên giới Israel được phân định gần giống đường ranh quân đội Israel chiếm đóng khi đình chiến, có nghĩa là Israel được lợi lớn về diện tích. Thành Jerusalem chia đôi: khu cổ thuộc Transjordan, khu mới của Israel. Ai Cập chiếm miền Gaza. Transjordan chiếm một vùng khá lớn lõm vào phía Đông Israel.

    Sau trận chiến, Israel rực sáng trên bản đồ thế giới bao nhiêu thì Palestine càng lu mờ đi bấy nhiêu.

    Kết quả này thiệt hại lớn cho người Ả Rập. Ai cũng nhận thấy Hoa Kì và Âu châu, ngoại trừ nước Anh, thiên vị Israel. Vì thế vòm trời Palestine vẫn u ám. Nguồn gốc chiến tranh vẫn còn đó. Chỉ đợi có dịp thì sẽ lại bùng nổ.

    Tại sao chỉ có hơn một nử triệu dân số mà Israel đã có thể thắng trận một cách vẻ vang như thế?

    Người Do Thái giải thích lí do họ chiến thắng: ‘Chúng tôi đã thắng vì hai lí do: một là Chúa Giúp sức cho dân tộc chúng tôi. Hai là sự dũng cảm của chiến sĩ chúng tôi. Họ chiến đấu hăng như sư tử’.

    Bên phía Ả Rập thì chính Nasser, có tham dự chiến trận này với cấp bậc đại úy, đã đưa ra 3 lí do khiến cho Ả Rập bại trận:

    1/ Khối Ả Rập không có chiến lược chung. Không lên lạc với nhau cho nên không cứu được nhau.

    2/ Quân Ai Cập kém quân Israel rất xa về vũ khí, huấn luyên, quân nhu, quân dụng và tiếp tế. Đó cũng là tình trạng chung của quân đội các nước khác trong khối Ả Rập.

    3/ Chính phủ Ai Cập coi trận chiến này là ‘chiến tranh chính trị’. Cốt sao chiếm nhiều đất, không nghĩ tới việc hao binh tổn tướng.

    Chúng tôi nhận thấy một lí do nữa cũng rất quan trọng là dân tộc Do Thái đã chiến đấu trong ý thức hết sức rõ rệt là họ chiến đấu để tồn tại. Nếu họ thua, dân tộc họ sẽ bị tiêu diệt, quốc gia Israel vừa khai sinh của họ sẽ bị xóa bỏ vĩnh viễn trên bản đồ. Đây là trận chiến một mất một còn, sống hay là chết.

    Một khía cạnh thâm sâu khác của sự thất bại về phía các nước Ả Rập là lòng tham lam ngấm ngầm đố kị nhau về đất đai. Các bên không muốn ai trong phe mình chiếm được thượng phong, sợ là nước ấy sẽ chiếm được nhiều đất hơn. Cho nên người ta nói không sai, chính các nước trong khối Ả Rập đã làm lu mờ một quốc gia cho người Ả Rập ở Palestine. Sau chiến tranh, các nước lên hệ đã kí hiệp định riêng rẽ với Israel. Ai Cập lấy được mảnh Gaza. Jordan mở rộng qua bờ Tây sông Jordan. Ngay chính Liên đoàn Ả Rập cũng không công nhận việc sát nhập thêm miền đất Tây ngạn sông Jordan này của Jordan.
  5. Luckyluke Member

    Số bài viết: 62
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 6
    Ôi, phức tạp thật nhưng nếu cứ để tình hình tiếp tục căng thẳng giữa Israel và Palestine thì chỉ có người dân là khổ nhưng bọn tài phiệt thì vẫn đứng đằng sau dựt dây thôi! Ai cũng là con người cũng có quyền đòi hỏi toàn vẹn lãnh thổ như Việt Nam! Vì vậy ở đây bên nào cũng có cái lý cả! Liên hiệp quốc chỉ là bù nhìn chẳng can thiệp gì được, tương lai chắc chắn sẽ có chiến tranh xảy ra phải không bạn Long4ndShort?

Chia sẻ trang này