1. THÔNG BÁO TUYỂN ADMIN DIỄN ĐÀN 2013
    Tìm kiếm nhà trọ - Ở ghép
    THÔNG BÁO BÁN ÁO SPKT.NET CHO THÀNH VIÊN DIỄN ĐÀN


    HÃY TÌM KIẾM Ở ĐÂY TRƯỚC KHI ĐẶT CÂU HỎI
    {xen:phrase loading}

Điều khiển tự động trong trong xe hơi

Thảo luận trong 'Điều khiển tự động ô tô' bắt đầu bởi bmnhy, 13 Tháng mười một 2006.

  1. bmnhy Giảng Viên

    Số bài viết: 914
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Mình thấy khá hay cho Dân ô tô đang học lập trình và đang phân vân nên học gì giữa sự đa dạng phong phú của các ngôn ngữ lập trình
    (Sưu tầm)

    Tự học lập trình trong 10 năm
    Filed under: Knowledge, Computers — doanchienthang @ 9:54 am
    Đây là quan điểm của Peter Norvig về các loại sách “ăn xổi” bày bán ngoài thị trường hiện nay với những cái “tít” nghe rất ư là hứng khởi: “Tự học Java trong 7 ngày” hay “Học Visual C++.NET trong 24 giờ”,v.v…Tất nhiên, mỗi người đều có động cơ và mục đích riêng khi học lập trình. Nhưng Peter cho rằng để trở thành một “expert programmer”, bạn cần ít nhất 10 năm, và việc trông chờ vào những cuốn sách kiểu như trên để “thay da đổi thịt” là điều không tưởng. Nhân tiện đây em xin giới thiệu đôi chút về quí ngài Peter Norvig, kẻo dân Việt Nam ta vốn có thói quen chỉ nghe lời người nổi tiếng, tưởng bác này vô danh lại xì mũi cười khẩy mà cho rằng người ta đang loạn ngôn…


    Theo từ điển bách khoa Wikipedia thì Peter Norvig hiện đang giữ chức giám đốc trung tâm nghiên cứu của Google Inc., (Director of Research, formly Director of Search Quality) với nhiệm vụ cao cả là sắp xếp và tổ chức lại thế giới thông tin cho người dùng dễ dàng truy cập, khai thác (đúng với slogan của Google). Ông đồng thời là ủy viên ban điều hành của Hiệp hội Trí tuệ nhân tạo Hoa Kì (American Association for Artificial Intelligence). Cùng với Stuart Russell, Peter Norvig là đồng tác giả của cuốn sách: “Artificial Intelligence – A Modern Approach” nổi tiếng, được giảng dạy tại 940 trường đại học thuộc hơn 90 quốc gia trên toàn thế giới. Cuốn sách là giáo trình chuẩn của rất nhiều University lừng danh như: MIT (Massachussetts Institute of Technology), University of California at Berkeley, Princeton University, Standford University, Oxford University, Yale University, v.v…Trước đó, ông giữ chức giám đốc điều hành trung tâm khoa học tính toán (Computational Science Division) của NASA tại Ames (NASA Ames Research Center), có nhiệm vụ giám sát hoạt động của hơn 200 nhà khoa học. Ngoài ra, ông còn đảm nhận chức vụ giáo sư tại đại học Nam California, thành viên hội đồng nghiên cứu khoa học của University of California at Berkeley, cũng như là một trong những nhà khoa học lão làng tại Sun Microsystems Laboratories…

    Thôi, nói thế là đủ biết cái tầm của người ta rồi. Và ý kiến dưới đây của Peter Norvig cũng đáng để mọi người cùng nhau thưởng thức và suy ngẫm. Nào, hãy bắt đầu…

    Tại sao bây giờ người ta lại vội vàng đến như vậy?

    Rảo bước quanh các cửa hàng sách, bạn sẽ thấy cái tựa: “Hướng dẫn lập trình Java trong 7 ngày” nằm bên cạnh một dãy dài vô tận những lời “đề nghị dạy học” đại loại như vậy về Visual Basic, Windows hay Internet… chỉ cần vài ngày hay vài giờ ngắn ngủi. Tôi đã thử thực hiện một động tác tìm kiếm (power search) tại Amazon.com:

    pubdate: after 1992 and title: days and(title: learn or title: teach yourself)

    và nhận được 248 kết quả. 78 hits đầu tiên là sách về máy tính (cuốn thứ 79 là Learn Bengali in 30 days). Thử thay “days” bằng "hours", những gì thu được cũng hoàn toàn tương tự: 253 kết quả, với 77 hits đầu tiên về máy tính (cuốn thứ 78 là Teach Yourself Grammar and Style in 24 Hours). Khi vượt ra ngoài top 200, tất cả các cuốn sách đều là computer books. (Thời điểm Norvig “thí nghiệm” có lẽ đã cách đây một thời gian, bây giờ những con số ấy tăng lên một cách chóng mặt).

    Từ đây có thể rút ra kết luận: “Hoặc là bây giờ người ta đổ xô đi tìm hiểu về máy tính, hoặc máy tính không hiểu vì một lí do hoang đường nào đó lại trở nên dễ học hơn những thứ khác”. Chẳng có quyển sách nào hướng dẫn học Beethoven, Vật lý Lượng tử hay thậm chí là “chăm sóc cho chó” (Dog Grooming) chỉ trong có vài ngày…Hừm, hãy thử xem cái title: Learn Pascal in Three Days gợi lên được điều gì:

    Learn: Trong 3 ngày thậm chí bạn còn chưa đủ thời gian viết được một vài chương trình cho ra hồn chứ đừng nói đến việc học từ những thành công và thất bại. Bạn cũng không có cơ hội làm việc với những người có kinh nghiệm và hiểu xem cái gì đang xảy ra xung quanh mình. Nói tóm lại là bạn chẳng thể nào học cho cặn kẽ được. 3 ngày chỉ đủ để bạn làm quen với phần nổi bề ngoài, đó không phải sự thấu hiểu. Và như Alexander Pope đã từng nói: “Hiểu biết nông cạn còn nguy hiểm hơn kẻ mù chữ” (Nguyên văn: A little learning is a dangerous thing).
    Pascal: Trong 3 ngày có thể bạn học xong cú pháp của Pascal (nếu bạn đã thực sự biết một vài ngôn ngữ lập trình khác), nhưng bạn khó mà học được cách sử dụng chúng. Nói ngắn gọn, nếu bạn là một lập trình viên Basic, bạn có thể viết những chương trình theo phong cách Basic sử dụng cú pháp của Pascal, nhưng bạn sẽ chẳng hiểu được những ưu điểm hay nhược điểm của Pascal. Vậy quan điểm ở đây là gì? Alan Perlis (giáo sư đại học Yale), trong Epigrams on Programming đã từng nói: “Một ngôn ngữ mà chẳng ảnh hưởng gì đến cách bạn tư duy về lập trình, ngôn ngữ ấy chỉ là đồ bỏ đi, không đáng để học” (Nguyên văn: A language that doesn't affect the way you think about programming, is not worth knowing). Có thể chấp nhận được nếu bạn chỉ định học đôi chút về Pascal (hoặc Visual Basic hay JavaScript) vì bạn chỉ cần làm quen với những công cụ có sẵn để làm một việc nào đó. Nhưng đấy không phải là bạn học ngôn ngữ để lập trình, bạn chỉ học để hoàn thành nhiệm vụ cụ thể của mình mà thôi.
    Trong 3 ngày: Thật đáng tiếc, điều này là không thể, như tôi sẽ chỉ ra dưới đây.
    Tự học lập trình trong 10 năm

    Các nhà nghiên cứu (Hayes, Bloom) đã chỉ ra rằng cần ít nhất 10 năm để đạt được sự tinh thông trong nhiều lĩnh vực, từ đánh cờ, sáng tác âm nhạc, hội họa, bơi lội, tennis, hay thu được kết quả trong tâm lí thần kinh hay hình học topo. Và lịch sử đã chứng minh không thể có con đường tắt. Dù cho đó là Mozart, thiên tài âm nhạc nảy nở từ năm lên 4 tuổi, cũng phải mất 13 năm để cho ra đời tác phẩm nhạc cổ điển đầu tiên. Dù cho đó là Beatles, trước khi xuất bản #1 đầu tiên vào năm 1964, họ cũng đã phải cặm cụi trong những câu lạc bộ nhỏ tại Liverpool hay Hamburg. Samuel Johnson cho rằng bạn thậm chí mất hơn 10 năm: “Sự vượt trội ở bất cứ lĩnh vực nào cũng chỉ có thể đạt được bằng lao động cật lực trong suốt cuộc đời, bạn không thể mua nó bằng một cái giá rẻ hơn” (Nguyên văn: “Excellence in any department can be attained only by the labor of a lifetime; it is not to be purchased at a lesser price”). Và Chaucer phàn nàn: “Cuộc đời quá ngắn ngủi, trong khi những mánh khóe thì lại quá dài để có thể học được”. (Nguyên văn: “The lyf so short, the craft so long to lerne”).

    Đây là công thức cho những thành công của tôi trong lập trình:

    Hãy yêu thích nó, bạn làm vì bạn cảm thấy vui vẻ và hào hứng. Hãy chắc chắn rằng bạn luôn như thế trong 10 năm…
    Hãy trao đổi với những lập trình viên khác, đọc chương trình của họ. Điều này còn quan trọng hơn bất kì quyển sách hay khóa đào tạo nào.
    Cách học tốt nhất là thông qua thực hành (learning by doing). Nói cho rõ ràng hơn thì: “Tầm cao nhất của một lĩnh vực nào đó không thể có được chỉ thông qua sự bổ sung về mặt kinh nghiệm. Nhưng kể cả khi đã có rất nhiều kinh nghiệm, nếu cố gắng và nỗ lực, bạn vẫn có thể tiến xa hơn”. (Nguyên văn: “The maximal level of performance for individuals in a given domain is not attained automatically as a function of extended experience, but the level of performance can be increased even by highly experienced individuals as a result of deliberate efforts to improve") và “để học tập một cách hiệu quả nhất, bạn cần phải xác định rõ khả năng hiện tại của mình, thu thập kiến thức từ người khác, và tự tìm lấy những cơ hội để học theo và sửa đổi sai lầm của chính mình” (Nguyên văn: “The most effective learning requires a well-defined task with an appropriate difficulty level for the particular individual, informative feedback, and opportunities for repetition and corrections of errors”). Cognition in Practice: Mind, Mathematics, and Culture in Everyday Life là một cuốn sách rất hữu ích cho quan điểm này.
    Nếu bạn muốn, hãy giành 4 năm ở đại học (và nhiều hơn ở trường phổ thông). Bạn sẽ có cơ hội làm những công việc yêu cầu khả năng và hiểu biết chuyên sâu hơn trong một vài lĩnh vực. Trong bất kì trường hợp nào, chỉ đọc sách thôi là chưa đủ. “Bút vẽ và mực màu không thể biến bạn trở thành họa sĩ, cũng như những bài giảng về khoa học máy tính trên lớp không thể giúp bạn trở thành chuyên gia lập trình” (Nguyên văn: “Computer science education cannot make anybody an expert programmer any more than studying brushes and pigment can make somebody an expert painter”), Eric Raymond, tác giả của The New Hacker Dictionary đã nói như vậy. Một trong những lập trình viên giỏi nhất mà tôi đã từng thuê chưa từng có bằng đại học, nhưng anh ta đã tham gia viết những phần mềm tuyệt vời (ví dụ), có news group của riêng mình và anh ta thậm chí còn giàu hơn cả tôi.
    Hãy tham gia vào các projects với những lập trình viên khác. Bạn có thể là best programmer trong một projects, nhưng cũng có thể là worst. Nếu là best, hãy thử khả năng làm leader của mình. Còn ngược lại, hãy học hỏi xem người giỏi nhất làm gì, và học xem họ không làm gì (vì họ muốn bạn làm những việc đó).
    Trong một project, hãy bắt tay làm việc sau những lập trình viên khác, khi bạn đã hiểu chương trình của họ. Hãy tìm xem những gì cần thiết để hiểu và chỉnh sửa khi người viết ra chương trình đó không có mặt ở đây. Thử nghĩ xem làm thế nào để thiết kế những chương trình giúp cho những người sau này có thể dễ dàng hơn trong việc bảo trì nó.
    Hãy học ít nhất khoảng nửa tá ngôn ngữ lập trình, bao gồm:
    Một ngôn ngữ hỗ trợ việc tạo các lớp trừu tượng (Java hoặc C++)
    Một ngôn ngữ lập trình hàm (Lisp hoặc ML)
    Một ngôn ngữ cú pháp (Lisp)
    Một ngôn ngữ hỗ trợ khai báo định danh (Prolog hoặc C++ templates)
    Một ngôn ngữ hỗ trợ coroutine (Icon hay Scheme)
    Một ngô ngữ hỗ trợ song song (Sisal)
    Hãy nhớ rằng “máy tính” là một phần của “khoa học máy tính”. Nên nắm rõ thời gian để máy tính thực hiện một chỉ thị, lấy một từ trong bộ nhớ (có hay không có cache), đọc những từ liên tiếp trong ổ đĩa, hay tìm kiếm một vùng nhớ cụ thể.
    Thời gian cần thiết để thực hiện các phép toán với một PC tốc độ 1GHz:

    execute single instruction 1 nsec = (1/1,000,000,000) sec
    fetch word from L1 cache memory 2 nsec
    fetch word from main memory 10 nsec
    fetch word from consecutive disk location 200 nsec
    fetch word from new disk location (seek) 8,000,000nsec = 8msec


    Hãy cố gắng tuân theo những qui định tiêu chuẩn của ngôn ngữ. Có thể đó là của ANSI C++, hoặc đơn giản đó là của công ti bạn. Bạn cũng nên tìm hiểu xem người ta thích gì ở ngôn ngữ đó, họ cảm thấy thế nào, hay vì sao họ thích nó.
    Hãy sẵn sàng từ bỏ những tiêu chuẩn của ngôn ngữ càng nhanh càng tốt.
    Với những điều tôi đã nói ở trên, bạn có thể băn khoăn rằng bạn sẽ đạt đến mức nào nếu chỉ đọc sách? Trước khi con trai cả của mình ra đời, tôi đã đọc tất cả những cuốn sách How To (làm thế nào), và vẫn cảm thấy vô cùng mù mờ, rối rắm. 30 tháng sau, khi sinh đứa thứ hai, phải chăng tôi đã quay lại chúng với cái nhìn hoàn toàn mới mẻ? Không, tôi chỉ dựa vào kinh nghiệm của chính mình. Chúng có ích và khiến tôi vững tin hơn nhiều so với việc đọc hàng ngàn trang sách của các bậc chuyên gia.

    Fred Brooks, trong bài luận nổi tiếng No Silver Bullets đã làm rõ ba bước để tìm một designer tốt:

    Hãy giải thích một cách có hệ thống cho câu hỏi: “Thế nào là một top designer?” càng sớm càng tốt.
    Hãy giao triển vọng và tương lai phát triển của công ti cho những người thông thái, có nhiều kinh nghiệm và tìm cách giữ chân họ cẩn thận.
    Trao cơ hội cho những designers đang trong giai đoạn trưởng thành để họ có thể tiếp xúc, học hỏi, nâng cao trình độ.
    Alan Perlis đã từng nói: “Mọi người đều có thể được dạy điêu khắc. Michealangelo thì không. Và ông đã tự trở thành nhà điêu khắc vĩ đại. Những lập trình viên siêu hạng cũng nên thế”.

    Vì vậy, nếu mua quyển sách Java nói trên, bạn có thế sẽ thu được một vài điều có ích. Nhưng nó không thể thay đổi cuộc đời của bạn, hoặc đưa bạn đến sự thành thạo hay tinh thông, chỉ trong 24 giờ, vài ngày hay thậm chí là vài tháng.

    Phụ lục: Lựa chọn ngôn ngữ

    Có nhiều người hỏi nên chọn học ngôn ngữ nào đầu tiên. Không có câu trả lời cụ thể, dưới đây là một số quan điểm:

    Hãy nhìn vào bạn của mình. Khi hỏi: “Tôi nên sử dụng hệ điều hành nào đây, Windows, Unix hay Mac?”, tôi thường đáp rằng: “Hãy nhìn vào bạn của mình”. Lợi ích thu được từ việc học hỏi bạn bè sẽ bù đắp cho những khác biệt căn bản giữa các hệ điều hành hay ngôn ngữ lập trình. Thêm nữa, hãy nhìn những người bạn “sắp quen”: đó là tập hợp các programmers mà bạn sẽ song hành cùng họ nếu bạn vẫn tiếp tục hành trình. Ngôn ngữ bạn chọn có một cộng đồng phát triển rộng lớn hay chỉ một vài người tham gia? Có những tài liệu, websites hay forums nào mà bạn sẽ nhận được lời giải đáp cho thắc mắc của mình? Bạn có thích những người ở đó không?
    Hãy làm thật đơn giản. Những ngôn ngữ như C++ và Java được thiết kế cho các ứng dụng chuyên nghiệp thực hiển bởi đội ngũ đông đảo các lập trình viên giàu kinh nghiệm, những người vốn rất quan tâm đến hiệu suất những dòng mã của họ. Vì thế, chúng thường bao gồm nhiều thành phần rất phức tạp. Nếu mới bắt đầu, bạn không cần đến sự phức tạp. Bạn hãy học những ngôn ngữ có cấu trúc đơn giản, dễ học.
    Play. Bạn thích học piano theo cách nào hơn: cách thức tương tác (interactive mode), tức là bạn nghe mỗi nốt nhạc ngay khi nhấn một phím đàn hay cách thức “batch”, bạn chỉ nghe các nốt sau khi đã hoàn thành cả nhạc phẩm? Rõ ràng, cách thứ nhất giúp bạn dễ dàng học hơn phải không? Lập trình cũng như vậy. Hãy chọn cho mình một “interactive mode” và sử dụng nó
    Theo tiêu chuẩn của riêng mình, tôi khuyên bạn nên bắt đầu với Python hoặc Scheme. Nhưng mỗi người có những hoàn cảnh khác nhau, và có thể có những lựa chọn tốt hơn. Nếu tuổi của bạn mới chỉ là số có một chữ số (tức bạn chưa đến 10 tuổi [IMG]), theo tôi bạn nên chọn Alice hoặc Squeak (những người lớn tuổi hơn cũng có thể thích chúng). Tuy nhiên, đó không phải là điều quan trọng. Quan trọng là, hãy chọn đi và bắt đầu ngay lập tức.

    Peter Norvig

    Đoàn Chiến Thắng dịch

    Xem bản gốc tiếng Anh tại đây…

    10 Comments »
    Dich ngon phet day. Good job!

    Comment by Duong — May 6, 2006 @ 12:21 pm

    bai dich ngon lam, bac thich the loai nay thi co the tham khao may essay cua paul graham noi tieng voi cuon: Hackers & Painters Big Ideas from the computer age

    Comment by garfield — May 17, 2006 @ 2:59 am

    […] Một wordpresser đã dịch bài này rất hay: http://doanchienthang.wordpress.com/2006/0...0-nam/#more-108 […]

    Pingback by I admire Tue Tinh much more than Bill Gates » Blog Archive » Teach Yourself Programming in Ten Years — May 17, 2006 @ 3:10 am

    Có thể Peter Norvig đã thật sự dành ra 10 năm để tự học lập trình nhưng hiện giờ ai cũng biết rõ rằng ông ta là một researcher chứ ko phải là một developer. 1 tuần là khoảng thời gian đủ để nắm được syntax và constraint của một ngôn ngữ. 1 tháng hoặc lâu hơn để tìm hiểu kỹ càng các thư viện cơ sở dành cho ngôn ngữ đó. Trong vòng một năm với vài project thì kỹ năng lập trình trên ngôn ngữ đó đã trở nên tương đối hoàn thiện. Cần mất một thời gian lâu hơn nữa để thực sự hiểu được ý tưởng ban đầu của những người thiết kế ra ngôn ngữ. Và có lẽ 10 năm - khoảng thời gian mà Norvig nhắc đến - là đủ để khi tiếp nhận một yêu cầu hay một vấn đề cụ thể bạn có thể nhanh chóng trả lời ngay rằng bạn sẽ sử dụng ngôn ngữ nào và vì sao bạn lại lựa chọn nó. Dù sao thì lập trình là một lĩnh vực mà lời khuyên “học đi đôi với hành” đúng hơn bao giờ hết.

    Comment by namdinhboy — May 20, 2006 @ 2:03 pm

    Sưu tầm từ đâu vậy ?

    Comment by Hùng — May 30, 2006 @ 1:34 pm

    Những tư liệu này cũng hay đấy chứ. Thật tình thì cũng giúp ích cho tôi ít nhiều. Anyway, thanks.

    Comment by Chau Dinh Huy — June 13, 2006 @ 8:41 pm


    Bạn dịch hay đấy. Theo mình thì thời gian 10 năm là đối với những lập trình viên chuyên nghiệp làm việc trong những hệ thống lớn. Với những tác giả viết sách Tin học trong các NXB lớn thường trong phần giới thiệu thường nói rõ đã có (…) kinh nghiệm lập trình với ngôn ngữ (…). Về mặt này thì quan điểm của Norvig là đúng.

    Comment by quangchien — July 23, 2006 @ 3:32 pm

    Bài này đã từng được dịch ra tiếng Việt từ hơn 2 năm trước, và đã đăng trên tạp chí “Học Lập Trình” ở Việt Nam.
    (tuy nhiên tạp chí này đã không tồn tại lâu)

    Dù sao đi nữa, bài viết vẫn rất giá trị và một bản dịch khác sẽ làm phong phú hơn

    Comment by martha focker — August 18, 2006 @ 3:31 pm

    Xin được phép post lại bản dịch của Hữu Xuân để các bạn tham khảo:

    ====================

    HỌC LẬP TRÌNH TRONG 21 NGÀY HAY 10 NĂM ?

    … Không ai trong chúng ta bắt đầu học từ hư không, chúng ta đứng trên vai của những người khổng lồ như Wirth, Knuth và hàng ngàn người khác. Sau đó chính bờ vai của chúng ta sẽ góp phần xây dựng tương lai.

    Tại sao mọi người lại học một cách hối hả như vậy?

    Đến bất kì một nhà sách nào, bạn cũng có thể tìm thấy những quyển sách hướng dẫn đại loại như “Tự học Java trong 7 ngày”, và vô số những quyển chỉ cách tự học Visual Basic, Window, Internet… trong một vài ngày hoặc vài giờ. Tôi đã vào website Amazon.com để tìm kiếm các sách có chủ đề “Teach youself” và nhận được 248 tiêu đề sách, 78 quyển đầu là sách về máy tính (quyển thứ 79 là “Learn Bengali in 30 days”). Tôi thay thế từ “days” bằng từ “hours” và cũng nhận được một con số tương tự: 253 quyển với 77 quyển đầu nói về máy tính (quyển thứ 78 có tựa đề “Teach Yourself Grammar and Style in 24 Hours”).

    Như vậy có thể đi đến kết luận rằng: người ta đang học về máy tính một cách hấp tấp, hoặc tin học là một môn khoa học dễ dàng nhất trên thế giới này. Thật ra, không có quyển sách nào trên thế giới có thể dạy người ta học nhạc Beethoven, Vật lý Lượng tử,… trong một vài ngày hoặc vài giờ.

    Chúng ta hãy phân tích xem tựa đề “Learn Pascal in Three Days” có nghĩa gì:

    Learn: trong ba ngày, bạn không thể có đủ thời gian để viết một vài chương trình có ý nghĩa và học những bài học kinh nghiệm từ những chương trình đó. Bạn càng không có đủ thời gian để hiểu được ngôn ngữ Pascal là như thế nào. Bạn cũng không có thời gian để học hỏi từ những lập trình viên có kinh nghiệm. Trong một thời gian ngắn ngủi như vậy, bạn không thể học được nhiều. Do đó, quyển sách chỉ có thể đề cập tới những vấn đề nông cạn. Mà như Alexander Pope(1) đã nói: “Học hành nông cạn thực sự là một điều nguy hiểm”.

    Pascal: trong ba ngày, bạn có thể học về cú pháp của ngôn ngữ Pascal (nếu như bạn đã biết một ngôn ngữ khác tương tự), nhưng không thể học được nhiều về cách dùng cú pháp ấy. Trong một thời gian ngắn, nếu là một người biết lập trình Basic, bạn có thể viết một chương trình theo phong cách Basic bằng ngôn ngữ Pascal, thế nhưng bạn không thể biết được ngôn ngữ Pascal hay (hoặc dở) ở chỗ nào. Một người nổi tiếng là Alan Perlis(2) đã nói: “Một ngôn ngữ không ảnh hưởng tới cách suy nghĩ của bạn về lập trình là một ngôn ngữ không đáng để học”. Bạn có thể nghĩ rằng không cần học nhiều về ngôn ngữ Pascal (hoặc về Visual Basic, hay javascript) bởi vì bạn chỉ cần một công cụ để hoàn thành một công việc nào đó. Nhưng đó là một cách nghĩ sai lầm, nếu không học về cách lập trình thì làm sao bạn có thể hoàn thành công việc.

    In Three Days: thật không may, 3 ngày không thể đủ để học bất kì ngôn ngữ nào, phần viết sau đây sẽ chứng minh cho bạn điều đó.

    Tự học lập trình trong 10 năm.

    Các nhà nghiên cứu đã xác định rằng một người mất khoảng mười năm để thành thạo một lĩnh vực nào đó, từ chơi cờ, soạn nhạc, hội họa, chơi đàn dương cầm, bơi lội cho đến nghiên cứu vật lý lượng tử.

    Và thực tế là không có một con đường tắt nào: ngay cả Mozart, người được coi là thần đồng âm nhạc vào năm lên 4, vậy mà phải mất 13 năm rèn luyện mới được công diễn trên thế giới. Samuel Johnson(3) còn cho rằng 10 năm là chưa đủ, ông đã nói: “Thành công trong bất kì lĩnh vực nào chỉ có thể đạt được bằng sự lao động của cả một đời người; và không thể nào có một cái giá thấp hơn”.

    Đây là nguyên tắc để thành công trong việc lập trình của tôi:

    Yêu thích việc lập trình, và học lập trình trong sự hứng thú. Và phải chắc rằng sự yêu thích đó đáng để cho bạn bỏ ra 10 năm theo đuổi. Trao đổi với các lập trình viên khác, đọc các chương trình của người khác. Điều này quan trọng hơn bất kì quyển sách hay khóa học nào.

    Tự viết chương trình. Cách học tốt nhất là học bằng thực hành. Nhớ rằng bạn phải viết các chương trình một cách cẩn thận. Quyển sách “Cognition in Practice: Mind, Mathematics, and Culture in Everyday Life” là một quyển sách hay để tham khảo về các qui tắc trong việc lập trình.

    Nếu muốn, bạn có thể bỏ ra 4 năm để học đại học. Việc này tạo cơ hội cho bạn làm một số việc trước khi tốt nghiệp, và sẽ cho bạn một sự hiểu biết sâu hơn về lĩnh vực mình quan tâm. Nếu bạn là người không thích trường học, bạn có thể học hỏi từ công việc thực tế những bài học tương tự. Nhưng trong bất kì trường hợp nào, việc chỉ học từ sách vở cũng không thể nào là đầy đủ. Như Eric Raymond, tác giả của quyển “The New Hacker’’s Dictionary” đã nói: “Sự giáo dục về Khoa học Máy tính không thể đào tạo ra những lập trình viên xuất sắc cũng như việc học về bút vẽ và màu tô không thể nào tạo ra một họa sĩ có tài”.

    Khi bạn làm việc trong một dự án với các lập trình viên khác, bạn có thể thấy rằng: một người có thể rất giỏi trong dự án này, nhưng sẽ rất dở trong một dự án khác. Khi bạn là người giỏi nhất, bạn hãy thử khả năng của mình trong vai trò lãnh đạo dự án, và cố gắng truyền cảm hứng của bạn cho các thành viên khác. Khi bạn là người dở nhất, hãy cố gắng học hỏi từ những việc mà lãnh đạo của bạn làm và không làm.

    Khi bạn đang thua kém các lập trình viên khác. Hãy dồn hết tâm trí của bạn để hiểu các chương trình của họ. Xem xét các chương trình đó dùng để làm gì và thử sửa lỗi các chương trình đó khi mà họ không có mặt ở đó. Kế tiếp, hãy nghĩ cách giải quyết vấn đề tốt hơn nếu có thể.

    Bạn nên học ít nhất 6 ngôn ngữ lập trình. Trong đó có một ngôn ngữ hỗ trợ lớp trừu tượng (như Java hay C++), một ngôn ngữ theo quan điểm hàm (như Lisp hay ML), một ngôn ngữ khai báo (như Prolog), một ngôn ngữ hỗ trợ xử lý tuần tự (như Icon hay Scheme), và một ngôn ngữ hỗ trợ xử lý song song (như Sisal).

    Cố gắng học một ngôn ngữ chính quy, có thể là ANSI C++, và hoàn tất việc học ngôn ngữ này càng nhanh càng tốt.

    Luôn nhớ rằng, trong từ “Khoa học Máy tính” đã hàm chứa “Máy tính”. Bạn phải biết rõ thời gian máy tính thực thi các lệnh, lấy thông tin từ bộ nhớ và đọc dữ liệu từ đĩa. Nghĩa là bạn cũng phải có hiểu biết cơ bản về phần cứng máy tính và cách thức làm việc của chúng.

    Tổng kết

    Tôi tin rằng, kinh nghiệm thực tế sẽ luôn đưa ra những điều bổ ích hơn so với hàng ngàn trang sách viết bởi những chuyên gia. Và bây giờ, bạn có thể đi mua một quyển sách về Java, bạn sẽ thu được một số điều hữu dụng từ quyển sách đó. Thế nhưng, bạn không thể thay đổi cuộc đời của mình hay nói cách khác là bạn không thể trở thành một lập trình viên chuyên nghiệp chỉ trong 24 giờ, 24 ngày, hay 24 tháng. Tôi tin chắc như thế.

    ——————–
    Theo Peter Norvig, Hữu Xuân lược dịch.

    (1) Alexander Pope (1688-1744): ông được xem như là nhà phê bình văn học tân cổ điển nổi tiếng ở Anh.

    (2) Alan Perlis (1922-1990): trưởng khoa đầu tiên của khoa Khoa học Máy tính, Đại học Carnegie. Chủ tịch đầu tiên của ACM. Người đầu tiên đoạt giải thưởng Turing.

    (3) Samuel Johnson (1709 - ?): một trong những họa sĩ người Anh nổi tiếng ở thế kỷ 18.

    ====================

    Comment by martha focker — August 20, 2006 @ 9:29 am

    viết rất hay, tôi tán thành với ý kiến đó.những cuốn sách ngoài thị trường là những cuốn nhảm nhí (dĩ nhiên là do nhiều tác giả có tiếng tăm viết), nhưng không phù hợp với đa số học giả.Bản thân tôi học lập trình 4 năm đại học cũng chỉ là lý thuyết suôn, không có gì hơn làm việc thực tế cả.
    và trong 4 năm học đó dĩ nhiên lớp tôi đã lập trình trên nhiều ngôn ngữ khác nhau (pascal,c/c++ for dos,visual basic, visual c++,visual c#, java, assembly) nhưng căn bản chủa tôilà ngôn ngữ duy nhất là c/c++; và bây giờ tôi có thể nói rằng: “khi bạn nắm được một ngôn ngữ nào đó rồi thì việc chuyển ngôn ngữ một cách gọi là thành công phải mất ít nhất 3 tháng trời làm việc chăm chỉ”




    Phan 2:

    Nguồn gốc xuất xứ , phạm vi ứng dụng và mối liên hệ giữa mô tả và khảo sát động học của hệ thống cả trong miền tần số lẫn miền thời gian trong lý thuyết điều khiển tự động
    Việc mô tả các hệ động học bằng các phương trình vi phân thường, ít ra được bắt đầu từ Niutơn, nhưng có lẽ Macxoen là người đầu tiên tiến hành nghiên cứu một cách hệ thống tính ổn định của các hệ có phản hồi như bộ điều chỉnh tốc độ quay của trục máy hơi nước hoạt động theo nguyên lý quả văng do Oát sáng chế năm 1784.
    Trong công trình công bố năm 1868 Macxoen đã thiết lập được phương trình vi phân của bộ điều chỉnh, thực hiện tuyến tính hoá tại lân cận điểm xác lập và chỉ ra rằng tính ổn định của hệ phụ thuộc vào nghiệm của phương trình đặc trưng của nó. Nếu các nghiệm đó có phần thực âm thì hệ ổn định.
    Trong những năm từ 1910-1920 bài toán công nghệ quan trọng nhất đối với nước Mỹ là xây dựng hệ thống liên lạc viễn thông giữa các châu lục.
    Những nghiên cứu tương ứng đã đem lại nhiều phát minh quan trọng trong kỹ thuật điện tử và lý thuyết điều khiển, đặt nền móng hình thành các bộ môn khoa học mới. Nhờ các nghiên cứu về các bộ khuếch đại điện tử sau đại chiến thế giới thứ nhất các cuộc gọi liên tỉnh đã có khả năng thực hiện. Để bù lại tổn hao năng lượng trong khoảng cách xa, người ta phải sử dụng nhiều bộ khuếch đại mắc nối tiếp nhau. Thế nhưng điều đó lại làm méo tín hiệu một cách đáng kể, bởi lẽ tính phi tuyến của mỗi tầng khuếch đại được khuếch đại lên ở tầng khuếch đại sau đó. Để khắc phục Harald Black đã tạo ra các bộ khuếch đại có phản hồi. Việc đưa vào ứng dụng các thiết bị kỹ thuật mới và phức tạp hơn thời bấy giờ đòi hỏi phải sử dụng các phương pháp toán học mới . Với các hệ có 50 bộ khuếch đại trở lên việc phân tích phương trình đặc trưng là rất khó khăn và không thể tiếp cận được . Do vậy các kỹ sư trong lĩnh vực thông tin liên lạc và thiết bị điện tử đã nghiên cứu ra phương pháp nghiên cứu mới dựa trên phép giải tích biến số phức mà cụ thể là áp dụng phép biến đổi Phurie và đưa ra khái niệm các đặc tính tần số.
    Năm 1932 Harry Nyqvist người mang quốc tịch Mỹ, gốc Thụy Điển đã công bố định lý nổi tiếng của mình về khả năng đánh giá tính ổn định của hệ thống dựa trên hình dáng đặc tính tần số của hệ. Ngày nay trong lý thuyết điều khiển tự động định lý đó được gọi là tiêu chuẩn ổn định mang tên ông - Tiêu chuẩn ổn định Nyqvist. Vào thời gian đó việc công bố định lý của Nyqvist được coi là bước ngoặt trong lý thuyết điều khiển - bước chuyển từ lĩnh vực thời gian sang lĩnh vực tần số. Ơ Nga phương pháp tần số cũng được áp dụng để đánh giá tính ổn định của các hệ thống vô tuyến. Năm 1938 Mikhailốp đã đưa ra tiêu chuẩn ổn định dựa trên quỹ đạo của mút véc tơ đặc trưng gọi là đường cong Mikhailốp.
    Mặc dầu hiện nay các đặc tính tần số nói chung và các tiêu chuẩn ổn định tần số nói riêng chỉ là một phần trong lý thuyết điều khiển, nhưng vào thời đó các chuyên gia quân sự đã đánh giá rất cao, coi các công trình này là các phát minh quan trọng và người Mỹ đã giữ kín cho đến lúc kết thúc thế chiến thứ hai. Trong nhiều trường hợp các hệ thống kỹ thuật rất phức tạp và phi tuyến. Trong những năm 40 của thế kỷ 20 phương pháp phản hồi đã trở thành phép tiếp cận chính thống. Người ta đã nghiên cứu các thiết bị dựa trên khái niệm điều chỉnh tỷ lệ, điều chỉnh vi tích phân (PID). Phương pháp tần số rất có hiệu quả trong phân tích và tổng hợp hệ thống. Ngày nay phương pháp tần số được ứng dụng rộng rãi cả trong các hệ tuyến tính lẫn trong các hệ phi tuyến, cả trong các hệ liên tục lẫn trong các hệ rời rạc, cả trong các hệ tường định lẫn trong các hệ ngẫu nhiên nhờ tính ưu việt riêng của nó.
    Đối với các hệ tuyến tính phức tạp, thay cho việc giải các phương trình vi phân cấp cao khi khảo sát tính ổn định người ta chỉ cần quan sát các đặc tính tần số là các đường cong phẳng. Hơn thế, các hệ tuyến tính có tính chất là khi tác động lên đầu vào của nó một tín hiệu dạng hàm điều hoà, tại đầu ra của nó trong trạng thái xác lập cũng nhận được một hàm điều hoà có cùng tần số nhưng khác biên độ và lệch pha. Nhờ vậy bằng cách thay đổi tần số nhưng giữ nguyên biên độ của tín hiệu vào ta có thể nhận được các đặc tính biên độ pha tần số của hệ. Tức là ta có thể xây dựng các đặc tính tần số bằng thực nghiệm. Tiếp đến áp dụng phép xấp xỉ có thể xác định hàm số truyền và từ đó lập được phương trình vi phân mà không phải biết đầy đủ giá trị các tham số và quan hệ phụ thuộc giữa tín hiệu ra và tín hiệu vào.
    Đối với hệ phi tuyến các đặc tính tần số được ứng dụng để xác định tần số và biên độ tự dao động nhờ phép tuyến tính hoá điều hoà.
    Trong các hệ tuyến tính chịu tác động của tín hiệu ngẫu nhiên, phương pháp tần số được ứng dụng để xác định phổ của tín hiệu ra thông qua phổ của tín hiệu vào và hàm số truyền tần số của hệ , từ đó xác định độ tản và độ lệch quân phương của sai số khi đánh giá chất lượng quá trình điều khiển trong trạng thái xác lập.
    Đối với các hệ rời rạc (cả các hệ xung và các hệ số) phương pháp tần số được sử dụng để xác định tần số trích mẫu (Sampling) đảm bảo không xẩy ra hiện tượng trùm phổ và trong các bộ lọc.
    Nhưng đến đầu những năm 50 của thế kỷ trước nhiều nhà nghiên cứu lại quay trở lại với phương pháp mô tả hệ thống bằng phương trình vi phân thường và coi đó là cơ sở của điều khiển các quá trình. Khuynh hướng này là do các chương trình vũ trụ của Nga và của Mỹ kích thích vì phương trình vi phân là dạng mô tả tự nhiên tính chất động học của các con tàu vũ trụ. Đồng thời với những tiến bộ vượt bậc của công nghệ thông tin và kỹ thuật điện tử, vi điện tử đã xuất hiện các máy tính điện tử có kích thước nhỏ gọn, có tốc độ tính toán cực nhanh, bộ nhớ siêu lớn với sự trợ giúp của phần mềm đa năng, linh hoạt được cài đặt trực tiếp trong các hệ điều khiển, đảm bảo tính khả thi về mặt kỹ thuật để giải bài toán tối ưu hoá quỹ đạo bay. Đến lượt mình các máy tính điện tử lại đòi hỏi công cụ toán học mới. Các kỹ sư làm việc với phương trình vi phân chứ không phải với các đặc tính tần số của hệ. Ngoài ra người ta cũng đưa vào lý thuyết điều khiển hiện đại các khái niệm nền tảng như tính điều khiển được, tính quan sát được và phản hồi theo biến trạng thái. Công cụ toán học mô tả hệ thống trong trường hợp này là phương trình trạng thái. Đó là hệ phương trình vi phân cấp một kết hợp thành phương trình vi phân ma trận véc tơ. Để giải bài toán tối ưu người ta cũng đã nghiên cứu các phần mở rộng trong phép tính biến phân đều thực hiện trong miền thời gian.
    Như vậy tuỳ từng bài toán cụ thể ta có thể khảo sát hệ thống hoặc trong miềm thời gian hoặc trong miền tần số. Giữa hai phương pháp này có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ trợ lẫn nhau. Từ phương trình vi phân bằng phép biến đổi Phurie ta sẽ nhận được các đặc tính tần số. Ngược lại như đã trình bày ở trên từ các đặc tính tần số thu được bằng thực nghiệm, áp dụng phép xấp xỉ gần đúng có thể lập được phương trình vi phân
  2. bmnhy Giảng Viên

    Số bài viết: 914
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
  3. bmnhy Giảng Viên

    Số bài viết: 914
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
  4. bmnhy Giảng Viên

    Số bài viết: 914
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Ứng dụng logic M điều khiển Hệ thống khí thải trong ô tô.

    (Do kinh nghiệm về M còn chưa thật tốt - có gì sai sót mong dc cùng trao đổi)
    Phần I: (chưa làm dc phần II là Mô phỏng, phần III phần thực nghiệm - Ai có hứng thú với phần này thì cùng tham gia nhé)

    Giới thiệu chung về Hệ thống khí thải:
    1. Sản vật cháy: (Môn NLDCDT)
    NOx, CO, H2O, HC, CO2,
    Thành phần gâyoo nhiểm môi trường

    2. Phương pháp điều khiển lượng khí ô nhiểm ứng dụng hai hệ thống EGR và VGT
    2.1 Chức năng VGT (Variable Geometry Turbine)
    tăng áp dòng khí nạp
    2.2 Chức năng EGR (Exhaust Gas Recirculation)
    cho phép một lượng khí thải quay trở lại inlet gate

    3. Phương pháp điều khiển dùng PID:
    3.1 Mo hinh hoa động cơ 4 cylinders

    Do tính phức tạp trong tính toán nên chỉ giới hạn xét hệ thống, nên chỉ xét 5 thông số chính:
    Áp xuất khí thải
    Áp xuất khí nạp
    Tốc độ Tuabin (wt)
    Tỷ lệ khí của sản vật cháy trong ống thải
    Tỷ lệ khí của sản vật cháy trong ống nạp


    Tín hiệu điều khiển input (U).
    Nếu ta tổng hợp 5 thông số trên thì ta có một hàm gọi là hàm trạng thái làm việc của động cơ (dân mình dùng thuật ngữ: Engine Performance) giả sư (hàm X)
    dễ dàng tưởng tượng dc Tín hiệu Output (Y) sẽ là hàm tổng hợp của U và X
    và Y chính là hàm của 5 thông số trên.
    Trong động cơ (Eng) thì tín hiệu Load và Speed là quan trọng nhất cho hầu hết các hệ thống điều khiển trên xe. do vậy mà sau này chúng ta sẽ tiến hành thí nghiệm với những dãi Load và Speed càng rộng, và nhiều giá trị càng tốt
    PP cơ bản: Fix vị trí VGT thay đổi EGR (bạn có thể dùng tay kéo cần Valve này nếu dùng lại điện) dùng thước Panme để đo khoảng Displacement của EGR. ta dễ dàng tìm đc vị trí tối ưu cho EGR ở tốc độ và tải đang xét. -- tương tự cho VGT.

    3.2 Đặc tính eng.
    a. Nonlinearites:
    Khi eng có constant speed và constant load. nếu tăng dòng khí nạp thì cần mở VGT (100%) sau đó đóng lại một ít
    đố bạn vì sao?


    Vì một lý do chúng mình đã học từ môn học của Thầy Quốc (NLDCDT)
    tức khi pressure trong inlet manifold cao thì kết quả sẽ là dong khí từ EGR (Fe) sẽ tăng cũng đúng cho Tốc độ turbine (wt) -> dòng khí vào compressor sẽ tăng cao.

    Tuy vậy, Nếu vị trí VGT (xVGT) mà khoảng 80% trước khi nó đóng một ít thì dòng khí vào Cylinder vẫn đạt yêu cầu (cái này cũng là từ mà các bạn hay gặp: take place) đơn giản là do thời khắc cân bằng xảy ra dc thì chúng ta lại đang nằm trong vùng không cân bằng (để biết cái Cân bằng và ko cân bằng mình sẽ lý giải trong dịp khác - vì ko đủ thời gian) (Đây chính là lý do mình đưa ra thuật ngữ Không tuyến tính cho phần này.
    Nếu bạn chưa hiểu thế nào là Tuyến tính, ko tuyến tính (phi tuyến) thì sẽ giải đáp sau khi có câu hỏi về bài này.

    Đến đây thì chúng ta cần chấp nhận một số nhận xét mang tính chất đã dc kiểm chứng qua mô phỏng và thực nghiệm liên quan (từ các hãng cung cấp trong các tạp chí khoa học mà chủ yếu là từ IEEE)

    > Vị trí EGR có mối quan hệ với điểm không cân bằng của VGT tương tự như một hàm số mũ.
    tại vị trí đó của VGT thì ở Ne (tốc độ eng) = 1200 75% load thì xEGR ko có tác động nhiều đến Hệ thống. và khi đó thì VGT đo dc là khoảng bé hơn 50% (có một lưu ý mà mình quên không đề cập, EGR không dc bảo vệ lại hiện tượng Backlow - chảy ngược dòng khí từ Inlet gate sang Exhaust gate, đây chính là cái hạn chế của những hệ thống EGR dc dùng ban đầu-vì khi VGT hoạt động thì áp suất khí thải tăng ->wt tăng -> áp suất khí nạp Pe tăng dẫn đến hiện tượng này)

    (Còn nữa)
  5. bmnhy Giảng Viên

    Số bài viết: 914
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
  6. bmnhy Giảng Viên

    Số bài viết: 914
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Cảm biến từ và thiết bị điện tử dùng trên ô tô trong thời gian sắp tới

    6/14/2006 3:27:50 PM


    Tại hội thảo về công nghệ ô tô trong tương lai được tổ chức nhân kỷ niệm 100 năm hoạt động của Hiệp hội kỹ sư ô tô Hoa Kỳ (SAE), nhiều báo cáo tập trung vào chủ đề "Tầm nhìn tới tương lai", trong đó một số diễn giả nhấn mạnh đến các thiết bị từ tính, điện tử sớm được sử dụng rộng rãi để phục vụ cho việc đảm bảo an toàn và khai thác tối ưu động lực ô tô.
    [IMG]

    Xu hướng này đã có những tiền đề vững chắc được khẳng định trong thực tiễn. Năm 2002 bình quân mỗi ô tô được trang bị 74 bộ cảm biến, kích hoạt, điều khiến, những đến năm 2010 con số này sẽ lên đến 175 bộ và những loại xe cao cấp sẽ cần đến gấp đôi số bình quân này. Bàng chứng hiển nhiên là tại Hoa Kỳ ngành công nghiệp bán dẫn liên tiếp tăng trưởng lợi nhuận hàng năm tới 9% từ việc cung cấp cho các nhà sản xuất ô tô, giữa lúc doanh số bán hàng cho các ngành kinh tế khác lại rất thất thường. Có nhiều căn cứ để dự báo tới năm 2010, thiết bị điện tử sẽ chiếm 30% đến 40% tổng giá trị mỗi đầu xe.

    Ít nhất hai lĩnh vực chính của công nghệ ô tô đòi hỏi thiết bị từ tính và điện tử để hoàn thiện, đó là nâng cao hiệu suất của động lực và tăng cường an toàn. Nhiều bộ phận điều khiển kiều cơ khí, vừa cồng kềnh lại kém chuẩn xác, sẽ được thay thế bằng điện tử để tăng hiệu lực và tiết kiệm nhiên liệu. Hệ truyền động phanh hãm, bơm, quạt. . . . cho đến bộ gạt nước cửa kính, cửa xe. . . . sẽ được trang bị linh kiện điện tử 'rắn' để gia tăng độ tin cậy. bền lâu và đễ chẩn đoán trục trặc.

    Đáng lưu ý là gần đây đã ứng dụng rộng loại transistor cao áp chế tạo trên một bản mạch "chíp" độc nhất gọi là "transistor" hiệu ứng trường ôxýt kim loại (MOSFET : metal oxide semi conductor field transistor); linh kiện này có nhiều công dụng tốt và đặc biệt là ở ô tô nó cho phép liên tục thay đổi tốc độ. Nhiều loại mạch điện tử tổ hợp (IC : integrated curcuit) được sử dụng. Quy cách, thể tích, trọng lượng các mô đun điện tử giảm được 50% trở lên.

    Nét mới nổi bật là vận dụng "hiệu ứng Hall tức là tác động giữa dòng điện/ từ trường / điện trường, nhằm tăng hiệu lực và độ tin cậy của hệ động lực, hệ chóng bó hãm, túi khí an toàn. Hiệu ứng Hall và các mạch IC kỹ thuật số giúp ích rất nhiều cho việc điều khiển, biến đổi chiều cao hệ quang treo. . . Cơ chế đánh lửa ở thời điểm tối ưu cho phép tiết kiệm nhiên liệu và giảm khí thải độc hại. Cảm biến hoạt động trên cơ sở hiệu ứng Hall giúp điều chỉnh vận tốc và hệ thống chống bó hãm, xiết chặt vành đai an toàn tuỳ theo tình huống hiểm nghèo. thậm chí theo trọng lượng người ngồi xe nữa. Cả thể tích túi khí cũng sẽ tự động điều chỉnh tuỳ theo vị trí người ngồi trên ghế.

    Để những thế hệ ô tô sắp tới được trang bị các hệ thống điện tử hợp nhất về điều khiển, động lực, truyền thông...cần có việc hợp tác nghiên cứu giữa hai ngành ô tô và bán dẫn. Phải nêu bật một yêu cầu mới là hai ngành cần sớm đi sâu vào loại ô tô điện, ô tô chạy bằng nhiều động lực, nhằm đối phó với xu hướng dầu mỏ ngày càng đắt và khó cung cấp.

    Theo KHKT

Chia sẻ trang này