1. THÔNG BÁO TUYỂN ADMIN DIỄN ĐÀN 2013
    Tìm kiếm nhà trọ - Ở ghép
    THÔNG BÁO BÁN ÁO SPKT.NET CHO THÀNH VIÊN DIỄN ĐÀN


    HÃY TÌM KIẾM Ở ĐÂY TRƯỚC KHI ĐẶT CÂU HỎI
    {xen:phrase loading}

Lịch Sử Dân Tộc Việt

Thảo luận trong 'Thảo luận nghiêm túc' bắt đầu bởi chipchipsky, 13 Tháng sáu 2009.

  1. chipchipsky Chip Còi^^!

    Số bài viết: 1,229
    Đã được thích: 2
    Điểm thành tích: 38
    Dân ta phải biết sử ta
    Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam

    <Hồ Chí Minh>

    Trong giang hồ hình như đồn đại một tin là người Việt rất ít hiểu biết về lịch sử của dân tộc Việt qua hơn 4000 năm lịch sử. Vì vậy Gà tui lập topic mong muốn các anh em bạn bè chia sẽ những hiểu biết về lịch sử của Việt qua những thời đại dựng nước và giữ nước. Tui không biết Lịch sử có phải thuộc lĩnh vực khoa học khác không. Liệu rồi Topic này có ở đúng chỗ của nó hay không, có gì thì anh em bạn bè góp ý kiến.:congratulate::congratulate::congratulate::congratulate:
    Mong muốn có những đóng góp và chia sẽ của anh em bạn bè muôn nơi để làm giàu kho tàng kiến thức của SPKT.:cutesmile::cutesmile::cutesmile::cutesmile:

    Mở đầu topic
    Lịch sử của nước Việt là lịch sử của đấu tranh giành độc lập vì vậy Gà tui xin mở đầu bằng:

    Các Danh tướng trong sự nghiệp dựng nước giữ nước
    .
    (Khái niệm giữ nước ở đây bao hàm cả sự nghiệp chống xâm lăng và sự nghiệp chống các thế lực chia cắt đất nước, làm phương hại đến truyền thống đạo đức cũng như tiềm lực quốc gia. )

    Trích từ cuốn sách Danh tướng Việt Nam
    Tác giả: Nguyễn Khắc Thuần
    Nhà xuất bản: Giáo dục
    Năm xuất bản: 1996
    (Tuy nhiên gà tui không bê nguyên cuốn sách vào đây mà chỉ tóm tắt cùng với việc so sánh với các tài liệu khác để đảm bảo thông tin là chính xác):congratulate::congratulate::congratulate:

    NƯỚC VIỆT NAM TA LÀ NƠI PHONG HÓA MỞ MANG, KHÍ TINH HOA TỤ HỌP. ĐÂY LÀ NƠI KẾ NGHIỆP CỦA CÁC ĐẤNG MINH QUÂN, NƠI ANH HÙNG HÀO KIỆT ĐỜI NÀO CŨNG CÓ. CÔNG LỚN CỦA CÁC BẬC TIÊN HIỀN, HOẶC ĐƯỢC KHẮC GHI Ở ĐỈNH, HOẶC TỎA SÁNG NƠI LƯỠI BÚA VÀ CỜ MAO, HOẶC RẠNG NGỜI TRONG VĂN CHƯƠNG SÁCH VỞ, HOẶC ĐỌNG LẠI TRONG KHÍ TIẾT ANH TÚ… TẤT CẢ ĐỀU LÀ NHỮNG NGƯỜI CẦN ĐƯỢC SỬ SÁCH GHI CHÉP LẠI.

    Trải hàng ngàn năm đấu tranh quyết liệt, đất nước đã sản sinh không biết bao nhiêu người có biệt tài cầm quân, nhưng, không phải bất cứ ai có biệt tài cầm quân cũng đều là danh tướng cả. Xuất phát từ nhận thức đó, Tui xin giới thiệu những người có biệt tài cầm quân và đã thực sự đem tất cả biệt tài đáng quý đó giúp ích cho sự nghiệp cứu nước cứu dân, để công đức lớn cho muôn đời con cháu. Nói khác hơn, họ vừa là người có biệt tài cầm quân, lại cũng vừa là người được dân tộc suy tôn là anh hùng. Tuy nhiên, cũng có không ít những vị anh hùng, tên tuổi ngời ngời trong sử sách, sự nghiệp sáng mãi trong kí ức bất diệt của nhân dân, nhưng sinh thời, họ chỉ là những người lính bình thường, chưa bao giờ là tướng, dẫu là tướng nhỏ. Trong trường hợp đó, Gà tui chỉ có thể trân trọng giới thiệu họ trong khuôn khổ những tấm gương anh hùng tiết tháo tiêu biểu mà thôi.

    Ngoài ra, trong sự nghiệp giữ nước, cũng có những người gần như chưa bao giờ trực tiếp cầm quân, nhưng, những ý kiến xuất sắc của họ lại có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc đến toàn bộ hoạt động của lực lượng vũ trang, đến thắng lợi vẻ vang của cả nước. Nói khác hơn, họ thực sự là danh tướng dù chưa bao giờ là võ quan. Gà tui kính cẩn ghi tên tuổi của họ vào hàng các danh tướng Việt Nam. (@#$% thằng này láo):congratulate::congratulate::congratulate::congratulate:

    01 - DƯƠNG ĐÌNH NGHỆ (? - 937)


    “Khi Lý Khắc Chính bắt được (Khúc) Thừa Mỹ, (Dương) Đình
    Nghệ bèn tìm cách đánh báo thù. Ông chiêu tập hào kiệt,
    dùng đại nghĩa để khuyến khích cùng hợp mưu để đánh đuổi
    tướng (Nam) Hán là Lý Khắc Chính. Vua (Nam) Hán sai Lý Tiến
    sang làm Thứ Sử Giao Châu (thay cho Lý Khắc Chính). Dương
    Đình Nghệ lại đem quân vây hãm Lý Tiến. Vua (Nam) Hán liền
    sai Trần Bảo sang cứu Lý Tiến. Dương Đình Nghệ đón đánh và
    chém được Trần Bảo. (Từ đó) Dương Đình Nghệ giữ lấy châu
    thành tự xưng là Tiết Độ Sứ, nhận lãnh mọi việc của châu”


    Ngô Thì Sĩ
    (Việt sử tiêu án)

    Trong sử cũ, thỉnh thoảng, Dương Đình Nghệ cũng được chép là Dương Diên Nghệ. Điều này cũng dễ hiểu, bởi lẽ trong Hán tự, mặt chữ Đình và chữ Diên gần giống nhau, rất dễ nhầm lẫn khi đọc cũng như khi sao chép. Dương Đình Nghệ sinh năm nào chưa rõ. Hiện tại, chúng ta chỉ biết ông mất vào năm 937. Tuy nhiên, xét việc ông nhận con nuôi và chọn con rể, cộng với một vài chi tiết có liên quan khác, cũng có thể ước đoán ông đã hưởng thọ khoảng trên dưới năm mươi tuổi.

    Dương Đình Nghệ vốn là một hào trưởng, người làng Dàng. Làng này nay thuộc xã Dương Xá, huyện Thiệu Yên, tỉnh Thanh Hóa. Thời Khúc Hào cầm quyền (907 - 917), Dương Đình Nghệ từng là một trong những bộ tướng của họ Khúc. Năm 917, Khúc Hạo mất, con là Khúc Thừa Mỹ lên nối nghiệp cha. Dương Đình Nghệ tiếp tục làm bộ tướng cho Khúc Thừa Mỹ (917 - 930 ).

    Bấy giờ, Trung Quốc đang trong thời loạn lạc, các tập đoàn thống trị không ngớt tìm cách chia bè kết cánh và xâu xé lẫn nhau. Một loạt các tiểu vương quốc lần lượt ra đời. Sử gọi đó là thời Ngũ đại thập quốc (năm đời mười nước). Sát biên giới phía bắc nước ta là Nam Hán - một tiểu vương quốc do họ Lưu lập nên. Trong bối cảnh phức tạp đó, sự khôn khéo trong quan hệ bang giao có ảnh hưởng rất to lớn đối với vận mệnh quốc gia. Khúc Hạo nhận thức rất đầy đủ về vấn đề này, rất tiếc là Khúc Thừa Mỹ lại không kế thừa được kinh nghiệm quý giá đó. Khúc Thừa Mỹ thường gọi Nam Hán là “ngụy triều”, “ngụy tặc” và chính lời lẽ thiếu tế nhị đó đã có tác dụng khiêu khích Nam Hán. Sẵn có mưu đồ bành trướng từ trước, nhân được thêm cơ hội này, năm 930, Nam Hán đã xua quân sang xâm lược nước ta. Cuộc kháng chiến chống Nam Hán do Khúc Thừa Mỹ chỉ huy đã nhanh chóng thất bại.

    Sau thất bại của Khúc Thừa Mỹ, vai trò của họ Khúc trên vũ đài chính trị của nước nhà cũng kể như chấm dứt. Triều đình Nam Hán tuy chưa kịp thiết lập một hệ thống chính quyền đô hộ vững chắc trên toàn cõi nước ta, nhưng, nguy cơ bị ngoại bang thống trị lâu dài cũng đã thể hiện rất rõ. Trước tình hình như vậy, Dương Đình Nghệ đã quả cảm đảm nhận trọng trách lãnh đạo nhân dân vùng lên giành lại độc lập và chủ quyền. Từ một vị hào trưởng - một bộ tướng thân tín của Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ. Dương Đình Nghệ đã trở thành một vị danh tướng, có công lớn đối với nước nhà. Chỉ trong vòng chưa đầy một năm. Dương Đình Nghệ đã ba lần đánh đuổi ba đạo quân lớn của Nam Hán do ba viên tướng khét tiếng khác nhau cầm đầu.

    Lần thứ nhất: Diễn ra ngay sau khi Khúc Thừa Mỹ thất bại trong việc chỉ huy cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán xâm lăng. Từ quê nhà, Dương Đình Nghệ đã tập hợp được hơn ba ngàn quân, tự mình làm tướng, đánh thẳng vào lực lượng của Nam Hán lúc bấy giờ đang đóng rải rác ở khu vực Hà Nội ngày nay. Tướng giặc là Lý Khắc Chính bị đại bại.

    Lần thứ hai: Nhà Nam Hán cho Lý Tiến sang thay Lý Khắc Chính và sẵn sàng đối phó một cách kiên quyết với Dương Đình Nghệ. Nhưng, Lý Tiến chưa kịp thực hiện sứ mạng được giao thì đã bị Dương Đình Nghệ đánh cho tơi bời. Lý Tiến phải hốt hoảng chạy về nước để cầu cứu.

    Lần thứ ba: Nhận lời kêu cứu của Lý Tiến: Nam Hán lập tức sai tướng Trần Bảo đem quân sang đàn áp. Nhưng, khi Trần Bảo tới, thành Giao Châu đã bị mất. Trần Bảo bèn cho quân vây thành, quyết tiêu diệt bằng được Dương Đình Nghệ. Trong trận giao tranh đầu tiên, Trần Bảo bị chém đầu, toàn bộ quân sĩ Nam Hán hoảng hốt bỏ chạy thục mạng. Từ đó, giặc Nam Hán không dám đụng tới Dương Đình Nghệ nữa.

    Bấy giờ, Nam Hán không phải là một nước lớn, lực lượng quân đội của chúng cũng không phải là hùng mạnh hơn người, nhưng nước ta vừa mới giành được độc lập. dân ta còn ít, tiềm lực của ta còn yếu... cho nên, đây cũng thực sự là một cuộc đối đầu hoàn toàn không cân sức. Để giành được thắng lợi vẻ vang và liên tục như Dương Đình Nghệ, ngoài chí lớn phi thường, hẳn nhiên là còn phải có mưu lược phi thường. Ông thật sự xứng đáng được xếp vào hàng những bậc danh tướng của nước nhà.

    Năm 931, sau khi lập nên những võ công xuất sắc như đã kể ở trên, Dương Đình Nghệ tự xưng là Tiết Độ Sứ, tự mình quản lí và điều hành các công việc của nước nhà. Tiết Độ Sứ là tên chức quan đô hộ của Trung Quốc đối với nước ta, được Trung quốc đặt ra kể từ khoảng cuối thời Bắc thuộc. Đối với Dương Đình Nghệ, đây chẳng qua là một danh xưng tạm dùng, cốt tạo ra sự tế nhị cần thiết trong quan hệ bang giao. Trong thực tế, ông chính là vua của nước ta.

    Tháng ba năm Đinh Dậu (937) Dương Đình Nghệ bị một kẻ phản phúc giết hại. :011::011::011:Kẻ đó là Kiều Công Tiễn. Chua xót thay, Kiều Công Tiễn lại cũng chính là con nuôi và là một trong những nha tướng từng được Dương Đình Nghệ cưu mang và tin cậy. Sau đó chẳng lao lâu, Kiều Công Tiễn bị Ngô Quyền giết chết. Đó là bản án đích đáng dành cho kẻ bất trung, bất nghĩa, phản phúc, phản chủ và phản dân.


    02 - NGÔ QUYỀN (898 - 944)

    “Tiền Ngô Vương lấy quân mới họp của nước Việt ta
    đánh tan cả trăm vạn quân của Lưu Hoằng Thao, mở
    nước và xưng vương, làm cho bọn người Bắc không dám
    sang nữa. Có thể nói là (Tiền Ngô Vương) một lần nổi
    giận mà khiến cho trăm họ được yên, mưu đã giỏi mà
    đánh cũng giỏi. Tuy chỉ mới xưng vương, chưa lên ngôi
    Hoàng Đế, cũng chưa đặt niên hiệu, nhưng quốc thống
    của ta cơ hồ đã được nối lại rồi vậy”


    Lê Văn Hưu
    (1230 – 1322)

    1. VÀI NÉT VỀ TIỂU SỬ

    Ngô Quyền người đất Đường Lâm. Đất này nay thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Nơi đây hiện cfn có lăng và đền thờ Ngô Quyền. Về tiểu sử của Ngô Quyền, sách Đại Việt sử kí toàn thư (ngoại kỉ, quyển 5, tờ 20-b) chép rằng:

    “Thân phụ (của Ngô Quyền ) là (Ngô) Mân, làm chức Châu Mục ở bản châu (tức châu Đường Lâm – NKT). Khi Vua (chỉ Ngô Quyền - NKT) mới sinh, đầy nhà có ánh sáng lạ. Vua có ba nốt ruồi ở lưng, dáng mạo thật khác thường, thầy bói cho là có tướng tốt, có thể làm chúa cả một phương, vì thế (thân phụ của Vua) mới đặt tên (cho Vua) là Quyền. (Vua) lớn lên, khôi. ngô tuấn tú, mắt sáng như chớp, dáng đi như hổ, gồm đủ trí và dũng, sức có thể nâng được vạc lớn. (Vua từng) làm Nha Tướng cho Dương Đình Nghệ (cũng tức là Dương Diên Nghệ, người đứng đầu chính quyền độc lập và tự chủ từ năm 931 đến năm 937 – NKT), được (Dương) Đình Nghệ gả con gái cho, đồng thời, trao quyền cai quản vùng Ái Châu (tức vùng thuộc tỉnh Thanh Hóa ngày nay - NKT)”.

    Các bộ chính sử cũ đều chép rằng, Dương Đình Nghệ có người con nuôi, tên là Kiều Công Tiễn. Kiều Công Tiễn là kẻ bất hiếu, bất nghĩa và bất trung, kẻ bạo ngược hiếm thấy trong lịch sử. Tháng ba năm Đinh Dậu (937), Kiều Công Tiễn đã giết chết Dương Đình Nghệ rồi đoạt lấy chức quyền. Căm phẫn trước hành động đó, tháng 12 năm Mậu Tuất (938), từ Ái Châu, Ngô Quyền đã đem quân ra hỏi tội Kiều Công Tiễn. Hoảng sợ trước lực lượng của Ngô Quyền. Kiều Công Tiễn đã sai sứ đem của cải sang đút lót cho vua nước Nam Hán để cầu cứu. Nam Hán nhân đó cho quân sang xâm lược nước ta. Ngô Quyền lập tức giết chết Kiều Công Tiễn, chặt đứt chỗ dựa nguy hiểm của quân xâm lăng, đồng thời, đánh trận quyết chiến chiến lược với quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (cũng vào tháng 12 năm 938), quét sạch kẻ thù ra khỏi bờ cõi.

    Mùa xuân năm Kỉ Hợi (939), Ngô Quyền xưng vương, lập triều nghi, đặt phẩm phục, dựng nền độc lập và tự chủ, đóng đô ở Cổ Loa. :045::045:Về việc làm sau chiến thắng của Ngô Quyền, sử thần Ngô Sĩ Liên nhận xét:

    “Tiền Ngô Vương nổi lên, không chỉ có công thắng trận mà còn đặt trăm quan, chế định triều nghi và phẩm phục, có thể nói là có tầm vóc của đấng Đế Vương.

    Năm Giáp Thìn (944), Ngô Quyển mất, hưởng thọ 46 tuổi. :011::011::011:

    NGÔ QUYỀN VỚI TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC Ở BẠCH ĐẰNG NĂM MẬU TUẤT (938).

    Vài nét về Nam Hán

    Kẻ bị Ngô Quyền đánh cho đại bại là quân Nam Hán, vậy, Nam Hán là ai? Mưu đồ cụ thể của quân Nam Hán đối với nước ta lúc bấy giờ như thế nào?

    Chính sử của Trung Quốc cho hay, năm Đinh Mão (907), nhà Lương sụp đổ, Trung Quốc lâm vào một thời kì loạn lạc, sử gọi là thời Ngũ Đại Thập Quốc (nghĩa là năm đời mười nước). Ngũ Đại gồm: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Chu. Còn Thập Quốc thì gồm có:

    - Nước Ngô do Dương Hành Mật lập nên ở vùng An Huy của Trung Quốc ngày nay.

    - Tiền Thục do Vương Kiến lập nên ở vùng Tứ Xuyên của Trung Quốc ngày nay.

    - Ngô Việt do Tiền Cù lập nên ở vùng Chiết Giang của Trung Quốc ngày nay.

    - Nước Sở do Mã Ân lập nên ở vùng Hồ Nam của Trung quốc ngày nay.

    - Nước Mân do Vương Thẩm Tri lập nên ở vùng Phúc Kiến của Trung Quốc ngày nay

    - Nam Hán do Lưu Ẩn lập nên ở vùng Quảng Đông của Trung Quốc ngày nay.

    - Nam Bình do Cao Bảo Dung lập nên ở vùng Hồ Bắc của Trung Quốc ngày nay.

    - Hậu Thục do Mạnh Tri Tường lập nên, cũng ở vùng Tứ Xuyên của Trung Quốc ngày nay.

    - Nam Đường do Lý Thăng lập nên ở vùng Giang Tô của Trung Quốc ngày nay.

    - Bắc Hán do Lưu Sùng lập nên ở vùng Sơn Tây của Trung Quốc ngày nay.

    Như vậy, trong số mười nước kể trên, Nam Hán là nước có chung đường biên giới với nước ta, qua lại nước ta dù là bằng đường bộ hay đường biển đều thuận tiện. Vua sáng nghiệp của Nam Hán là Lưu Ẩn (cũng tức là Lưu Nghiễm, Lưu Yêm, Lưu Thiệp hay Lưu Cung…) vốn là kẻ kiệt hiệt. Nam Hán có tiềm lực khá mạnh. Tháng 7 năm Canh Dần (930), vua Nam Hán từng sai tướng Lý Khắc Chính (cũng có sách chép là Lương Khắc Chính) đem quân sang xâm lược nước ta. Cuộc kháng chiến do Khúc Thừa Mỹ lãnh đạo bị thất bại, nước ta bị quân Nam Hán thống trị từ cuối năm 930 đến cuối năm 931. Tháng 12 năm 931, vì bị Dương Đình Nghệ đem quân từ Ái Châu (Thanh Hóa) ra tấn công bất ngờ và dồn dập, chúng mới phải tháo chạy vế nước.

    Thời Dương Đình Nghệ đứng đầu chính quyền độc lập và tự chủ (từ cuối năm 931 đến đầu năm 937), Nam Hán cũng từng nuôi tham vọng xâm lăng nước ta, vừa để có thể bành trướng xuống phương Nam, vừa rửa mối nhục thất bại như đã nói ở trên nhưng chúng chưa có cơ hội thực hiện. Cuối năm Mậu Tuất (938) nhân được Kiều Công Tiễn cầu cứu, Nam Hán liền quyết chí sang đánh nước ta lần thứ hai.

    Bấy giờ, Nam Hán không phải là nước lớn, nhưng ta lại là một nước nhỏ, đất đai đại để mới từ vùng Quảng Bình trở ra mà thôi. Tính chất nguy hiểm của cuộc xâm lăng này không phải chỉ có từ phía quân Nam Hán mà còn có cả ở phía lực lượng phản dân hại nước do Kiều Công Tiễn cầm đầu. Vua Nam Hán tự mình soạn thảo kế hoạch, bất chấp mọi lời can ngăn của quan lại dưới quyền. Con trai của vua Nam Hán là Vạn Vương Lưu Hoằng Thao được cử làm tướng tổng chỉ huy quân xâm lăng. Bản thân vua Nam Hán thì điều thêm quân ra đóng ở Hải Môn (vùng Tây Nam, huyện Bác Bạch, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc ngay nay) để làm thanh viện.

    Quần thần vẫn tiếp tục can ngăn. Vua Nam Hán bèn đến hỏi ý của quan giữ chức Sùng Văn Sứ là Tiêu Ích. Và, Tiêu Ích đã trả lời một cách rất khôn ngoan, vừa không làm phật lòng vua Nam Hán, vừa có thể giữ yên thân mình. Tiêu Ích nói:

    “Nay mưa dầm đã mấy tuần mà đường biển thì xa xôi và nguy hiểm, trong khi đó, Ngô Quyền lại là người kiệt hiệt, không thể nào khinh suất được. Đại quân của ta phải tiến một cách thận trọng và chắc chắn, tốt nhất, hãy nên dùng người hướng đạo đi trước rồi sau hãy cất quân đi”.

    Nhưng. vua Nam Hán vẫn không nghe theo lời khuyên của Tiêu Ích. Tháng 12 năm Mậu Tuất (938), quân Nam Hán rầm rộ vượt biển tiến vào nước ta qua ngả sông Bạch Đằng.

    Bạch Đằng là một con sông ngắn nhưng rất rộng và sâu. Sông vốn có tên Nôm là sông Rừng, nhưng vì sông này thường có sóng bạc nổi lên, nhân đó mới có tên chữ là Bạch Đằng. Cửa sông Bạch Đằng xưa nay đều có tên là cửa Nam Triệu, cũng vì thế, con sông này còn có tên là sông Nam Triệu. Tuy nhiên, cửa Nam Triệu thời Ngô Quyền nằm ở vị trí sâu hơn, vào khoảng ngã ba của sông Cấm và sông Bạch Đằng hiện nay. Sở dĩ có sự khác biệt này là vì sự vận động địa chất, dẫn đến sư biến đổi địa hình của vùng Đông Bắc nước ta trong hơn một nghìn năm qua. Từ vùng biển Đông Bắc. Bạch Đằng là con sông tiện lợi nhất để thủy quân có thể men theo đó mà tiến sâu vào lãnh thổ nước ta.

    Trận Bạch Đằng

    Cuối năm 938, để cứu nguy cho vận nước, Ngô Quyền đã có hai quyết định quan trọng. Một là nghiêm trị Kiều Công Tiễn, kẻ đã giết hại Dương Đình Nghệ và sau đó đã cam tâm đi cầu cứu quân Nam Hán. Giết Kiều Công Tiễn tức là tiêu diệt chỗ dựa của quân xâm lăng. Giết Kiều Công Tiễn tức là để bảo vệ đạo lí và nghĩa khí của dân tộc. Giết Kiều Công Tiễn cũng tức là để tạo ra sự ổn định hậu phương trước khi đại quân xuất trận. Hai là Ngô Quyền đã vạch kế hoạch đánh gục quân Nam Hán xâm lăng. Binh pháp cổ thường nhấn mạnh câu tri bi tri kỉ bách chiến bách thắng (biết người biết ta, trăm trận trăm thắng). Những ghi chép của sử cũ cho thấy Ngô Quyền đã biết rất rõ mưu đồ của quân Nam Hán lúc bấy giờ. Sách Đại Việt sử kí toàn thư (ngoại kỉ, quyển 5, tờ 19-b) chép rằng:

    “Ngô Quyền nghe tin Hoằng Thao sắp đến, liền nói với các tướng dưới quyền rằng:

    Hoằng Thao là đứa trẻ khờ dại. Hắn đem quân từ cõi xa đến, lính tráng đều mỏi mệt, đã thế, lại nghe tin Kiều Công Tiễn đã bị giết rồi. Mất kẻ nội ứng, hẳn nhiên là chúng đã bị mất vía từ trước. Ta nay lấy quân khỏe mạnh để đánh quân mỏi mệt, ắt là phải phá được. Nhưng, bọn chúng lợi thế ở chiến thuyền, nếu ta không lo phòng bị trước thì chưa biết sẽ ra sao. Nay, nếu ta sai người đem cọc lớn, vạt nhọn và bịt sắt, ngầm đóng sẵn ở cửa biển, rồi nhân khi nước triều lên cao (che khuất bãi cọc) mà dụ cho chiến thuyền của chúng tiến vào thì sau đó ắt sẽ dễ bề chế ngự, quyết không cho chiếc nào chạy thoát”.

    Xưa nay, cửa sông Bạch Đằng đều rất sâu, có chỗ sâu đến 18 mét. Độ sâu ấy, không cho phép đóng cọc theo lối giăng ngang mà chỉ có thể đóng ở hai bên mé sông, nơi thuyền bè thường xuôi ngược. Công việc dựng bãi cọc gỗ vạt nhọn và bịt sắt được tiến hành khẩn trương nhưng cũng rất công phu. Hàng ngàn người được huy động đi đốn cây. Hàng trăm thợ được điều đến để bịt sắt vào cọc gỗ. Đông đảo quân sĩ đã tham gia vào việc tạo dựng bãi cọc này. Trước khi giao chiến với Hoằng Thao, Ngô Quyền đã nghiên cứu rất kĩ chế độ thủy văn của sông Bạch Đằng và chính phần hiểu biết quan trọng này đã dự phần không nhỏ vào thắng lợi chung.

    Sau khi hoàn tất bãi cọc gỗ, Ngô Quyền đã bố trí lực lượng như sau:

    - Đại binh của Ngô Quyền bố trí ở ngay phía sau bãi cọc gỗ: tất cả được mai phục sẵn trong những lùm cây mọc đầy ở ven sông.

    - Phía tả ngạn sông Bạch Đằng là đạo quân do Dương Tam Kha (con Dương Đình Nghệ, em vợ của Ngô Quyền) chỉ huy.

    - Phía hữu ngạn là đạo quân do Ngô Xương Ngập (con trai của Ngô Quyền) và tướng Đỗ Cảnh Thạc chỉ huy.

    Vị tướng trẻ có tài bơi lội và rất thông thuộc sông nước Bạch Đằng là Nguyễn Văn Tố được giao nhiệm vụ ra phía trước bãi cọc để khiêu chiến.

    Về diễn biến của trận Bạch Đằng, sách Đại Việt sử kí toàn thư (ngoại kỉ, quyển 5, tờ 19-b và tờ 20-a) chép như sau:

    “Định xong kế sách rồi, (Ngô Quyền) bèn cho đóng cọc gỗ ở hai bên cửa sông. Khi nước triều lên, (Ngô) Quyền sai người đem thuyền nhẹ ra khiêu chiến rồi giả thua để dụ địch đuổi theo. Bọn Hoằng Thao quả nhiên tiến nhanh vào. Khi chiến thuyền của chúng đã nằm hết ở trong bãi cọc thì thủy triều cũng vừa rút, khiến cho cọc nhô dần lên. Bấy giờ, (Ngô) Quyền mới tung quân ra, ai nấy cũng đều liều chết để chiến đấu. Nước triều rút quá nhanh, quân Hoằng Thao trở thuyền không kịp nên đều vướng cọc mà lật úp. Lũ giặt rối loạn rồi tan vỡ, quân lính chúng bị chết đuối đến hơn một nửa. (Ngô) Quyền thừa thắng đánh đuổi rất gấp, bắt được Hoằng Thao, đem giết đi. Vua Nam Hán (đóng ở Hải Môn, nghe tin dữ) liền thương khóc, thu nhặt tàn quân (của Hoằng Thao tháo chạy đến) và rút về. Vua Nam Hán cho rằng, tên mình là Lưu Cung thật đáng ghét lắm vậy”.


    Danh thơm còn mãi với thiên thu

    Trận Bạch Đằng năm 938 là một trong những trận thủy chiến xuất sắc của lịch sử nước nhà. Với chiến thắng này, Ngô Quyền đã đè bẹp hoàn toàn tham vọng bành trướng xuống phương Nam của Nam Hán, khẳng định một cách hiên ngang kỉ nguyên độc lập và tự chủ của nước nhà. Với chiến thắng này, Ngô Quyền thực sự trở thành một anh hùng dân tộc, một thiên tài quân sự của nước nhà. Ngô Quyền đã để lại cho hậu thế những kinh nghiệm vô giá trong tổ chức và chỉ huy thủy chiến. Ông là người đầu tiên dùng bãi cọc và cũng là người đầu tiên biết tận dụng thủy triều vào trận mạc. Trận Bạch Đằng năm 938 là một trong những trận mẫu mực của sự hợp đồng tác chiến giữa thủy binh với bộ binh, cũng là một trong những trận mẫu mực của sự kết hợp hài hòa giữa mai phục với tấn công tiêu diệt. Từ trận Bạch Đằng, tên tuổi và sự nghiệp của Ngô Quyền chói sáng trong sử sách và trong kí ức bất diệt của các thế hệ nhân dân ta. Trong Việt sử tiêu án, Ngô Thì Sĩ (1726 - 1780) viết:

    “Nếu không có trận đại thắng này thì nhuệ khí của bọn Lưu Nghiễm vẫn còn, và cái cơ bị ngoại thuộc lại dần dần nổi lên. Cho nên, trận Bạch Đằng chính là gốc rễ của sự khôi phục quốc thống. Sau này, các đời Đinh, Lê, Lý, Trần... cũng được nhờ ở dư âm của sự oanh liệt ấy. Võ công hiển hách của Ngô Quyền, thực sự là để tiếng thơm đến muôn đời chứ đâu phải chỉ sáng rỡ trong nhất thời đâu”.

    Sau thất bại thảm hại ở Bạch Đằng, nước Nam Hán vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển thêm một thời gian nữa, nhưng trong suốt thời gian đó, chúng không dám bén mảng đến nước ta. Nhận xét về thực trạng của Nam Hán lúc bấy giờ, sử thần Ngô Sĩ Liên viết:

    “Lưu Cung tham đất của người muốn mở rộng bờ cõi, nhưng đất không lấy được mà lại để mất đứa con của mình, đã thế, còn gây hại cho dân. Mạnh Tử nói “đem cái mình chẳng yêu mà hại cái mình yêu”, đại để là như thế này chăng?”.


    Vạn sự khởi đầu nan. mong anh em bạn bè cho ý kiến để tui còn tiếp tụi nếu không thì đành phải gác phím tại đây:011::011::011:
  2. thanhmai Member

    Số bài viết: 606
    Đã được thích: 5
    Điểm thành tích: 18
    Tiếp Cho bạn Nè
    Nhưng Mình Thích Tìm Hiểu Các Nhà Thơ Nhà Văn Hơn Là Các nhà Chính Trị

    Cùng nhau nhớ về bốn thi sĩ nổi tiếng của Bình Định
    Là một người con Bình Định,dù sống ở bất cứ nơi nào đi chăng nữa thì mình vẫn luôn tự hào vì được sinh ra nơi đây, tự hào với truyền thống Đất Võ, với lịch sử đấu tranh oai hùng của người dân Bình Định. Và đặt biệt càng tự hào hơn nữa khi cuộc sống đã ban tặng cho quê hương chúng ta những thi sĩ những thi sĩ thật tuyệt vời để họ mang những trang thơ của mình trang điểm cho đời , tạo nên nét đặt trưng riêng cho Bình Định chúng ta. Nhắc đến các nhà thơ Bình Định thì mọi người không thể không nhắc đến bốn thi sĩ nổi tiếng : Hàn Mặt Tử, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Yến Lan,…và nhiều nhà thơ khác nữa. Để chứng tỏ lòng yêu quê hương, đất nước trong mỗi con người Bình Định chúng ta thì ít nhất các bạn cũng phải nắm rõ những hiểu biết về các nhà thơ đó chứ nhỉ…?

    Hàn Mặc Tử

    Hàn Mặc Tử (22 tháng 9, 1912 – 11 tháng 11, 1940) là một nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam, là người khởi xướng ra trường thơ loạn, trường thơ điên.
    Tiểu sử

    Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ở làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình. Hàn Mạc Tử, Lệ Thanh, Phong Trần là các bút danh khác của ông. Ông có tài năng làm thơ từ rất sớm. Ông cũng đã từng gặp gỡ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của chí sỹ này. Ông được Phan Bội Châu giới thiệu bài thơ Thức khuya của mình lên một tờ báo. Sau này, ông được một suất học bổng đi Pháp nhưng vì quá thân với Phan Bội Châu nên đành đình lại. Ông quyết định lên Sài Gòn lập nghiệp. Năm đó ông 21 tuổi.
    Lên Sài Gòn, ông làm phóng viên phụ trách trang thơ cho tờ báo Công luận. Khi ấy, Mộng Cầm ở Phan Thiết cũng làm thơ và hay gửi lên báo. Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với nhau, và ông quyết định ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Một tình yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người [1].
    Ít lâu sau, ông mắc bệnh phong - một căn bệnh nan y thời đó. Ông bỏ tất cả quay về Quy Nhơn và mất khi mới 28 tuổi [2].
    Cuộc đời của ông được biết đến với nhiều mối tình, với nhiều người phụ nữ khác nhau, đã để lại nhiều dấu ấn trong văn thơ của ông - có những người ông đã gặp, có những người ông chỉ giao tiếp qua thư từ, và có người ông chỉ biết tên như Hoàng Cúc, Mai Đình, Mộng Cầm, Thương Thương, Ngọc Sương, Thanh Huy, Mỹ Thiện.
    Các tập thơ đã xuất bản : Gái quê (1936), Thơ Hàn Mặc Tử (1959) gồm có: Thơ Đường Luật, Gái Quê, Đau Thương (lúc đầu mang tên Thơ điên), Xuân Như Ý.
    Tên của ông được đặt cho đường phố ở Huế và Phan Thiết. Có ít nhất hai bài hát được sáng tác để nói về cuộc đời ông: Hàn Mặc Tử của Trần Thiện Thanh[3] và Trường ca Hàn Mặc Tử của Phạm Duy[4].
    Năm 2004, Hãng phim truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (TFS) đã thực hiện bộ phim Hàn Mặc Tử để kỷ niệm ông.
    Một số bài thơ nổi tiếng


    Nhiều bài thơ của Hàn Mặc Tử đã được phổ nhạc vì tính lãng mạn của nó. Sau đây là một số bài được nhiều nhà phê bình đánh giá là hay và đã được đưa vào sách giáo khoa bậc trung học.
    Đây thôn Vỹ Dạ
    Sao anh không về chơi thôn Vỹ?
    Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên,
    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
    Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

    Gió theo lối gió, mây đường mây
    Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...
    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
    Có chở trăng về kịp tối nay?

    Mơ khách đường xa, khách đường xa,
    Áo em trắng quá nhìn không ra...
    Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
    Ai biết tình ai có đậm đà





    Mùa xuân chín
    Trong làn nắng ửng: khói mơ tan
    Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
    Sột soạt gió trêu tà áo biếc
    Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang

    Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
    Bao cô thôn nữ hát trên đồi
    Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
    Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi...

    Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
    Hổn hển như lời của nước mây
    Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc
    Nghe ra ý vị và thơ ngây...

    Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
    Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng
    Chị ấy năm nay còn gánh thóc
    Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?

    Bình luận và nhận xét

    Đánh giá và bình luận về tài thơ của Hàn Mặc Tử có rất nhiều, sau đây là một số đánh giá của các nhà thơ văn nổi tiếng:
    "Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình"
    "Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mạc Tử."
    (Nhà thơ Chế Lan Viên)
    "Sẽ không thể giải thích được đầy đủ hiện tượng Hàn Mặc Tử nếu chỉ vận dụng thi pháp của chủ nghĩa lãng mạn và ảnh hưởng của Kinh thánh. Chúng ta cần nghiên cứu thêm lý luận của chủ nghĩa tượng trưng và chủ nghĩa siêu thực. Trong những bài thơ siêu thực của Hàn Mặc Tử, người ta không phân biệt được hư và thực, sắc và không, thế gian và xuất thế gian, cái hữu hình và cái vô hình, nội tâm và ngoại giới, chủ thể và khách thể, thế giới cảm xúc và phi cảm xúc. Mọi giác quan bị trộn lẫn, mọi lôgic bình thường trong tư duy và ngôn ngữ, trong ngữ pháp và thi pháp bị đảo lộn bất ngờ. Nhà thơ đã có những so sánh ví von, những đối chiếu kết hợp lạ kỳ, tạo nên sự độc đáo đầy kinh ngạc và kinh dị đối với người đọc."
    (Nhà phê bình văn học Phan Cự Đệ)
    "Hàn Mặc Tử có khoảng bảy bài hay, trong đó có bốn bài đạt đến độ toàn bích. Còn lại là những câu thơ thiên tài. Những câu thơ này, phi Hàn Mặc Tử, không ai có thể viết nổi. Tiếc là những câu thơ ấy lại nằm trong những bài thơ còn rất nhiều xộc xệch..."
    (Nhà thơ Trần Đăng Khoa)
    "...Theo tôi thơ đời Hàn Mặc Tử sẽ còn lại nhiều. Ông là người rất có tài, đóng góp xứng đáng vào Thơ mới."
    (Nhà thơ Huy Cận)
    "...Một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng..." và "Vườn thơ Hàn rộng không bờ không bến càng đi xa càng ớn lạnh..."
    (Nhà phê bình văn học Hoài Thanh)


    Chế Lan Viên

    Chế Lan Viên (20 tháng 10 [1], 1920 – 19 tháng 6, 1989) là một nhà thơ nổi tiếng ở Việt Nam, đồng thời ông cũng là một nhà văn.
    Tiểu sử và văn nghiệp



    Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh năm 1920 tại Cam An, Cam Lộ, Quảng Trị.
    Ông lớn lên và đi học ở Quy Nhơn, đỗ bằng Thành Chung thì thôi học, đi dạy tư kiếm sống. Có thể xem đây là quê hương thứ hai của Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ.
    Ông bắt đầu làm thơ từ năm 12, 13 tuổi. Năm 17 tuổi, với bút danh Chế Lan Viên, ông xuất bản tập thơ đầu tay nhan đề Điêu tàn, có lời tựa đồng thời là lời tuyên ngôn nghệ thuật của "Trường Thơ Loạn". Từ đây, cái tên Chế Lan Viên trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam. Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn sáng lập ra "Trường Thơ Loạn" được gọi là nhóm "Bàn thành tứ hữu" của Bình Định.


    Quách Tấn, Nguyễn Đình, Chế Lan Viên
    Năm 1939 ông ra học tại Hà Nội, sau vào Sài Gòn làm báo rồi ra Thanh Hóa dạy học. Năm 1942 ông cho ra đời tập văn "Vàng Sao", tập thơ triết luận về đời với mầu sắc siêu hình, huyền bí.
    Cách mạng tháng Tám thành công, ông tham gia phong trào Việt Minh tại Quy Nhơn, sau ra Huế tham gia Đoàn xây dựng cùng với Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh, viết bài và làm biên tập cho các báo Quyết thắng, Cứu quốc, Kháng chiến. Phong cách thơ của ông giai đoạn này cũng chuyển dần về trường phái hiện thực. Tháng 7 năm 1949, trong chiến dịch Tà Cơn-đường 9 (Quảng Trị), Chế Lan Viên gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương[2].
    Năm 1954, Chế Lan Viên tập kết ra Bắc làm biên tập viên báo "Văn học". Từ năm 1956 đến năm 1958, ông công tác ở Phòng Văn nghệ, Ban tuyên huấn Trung ương và đến cuối năm 1958 trở lại làm biên tập tuần báo "Văn học" (sau là báo "Văn nghệ"). Từ năm 1963 ông là Ủy viên Thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, Ủy viên Ban thư kí Hội Nhà văn Việt Nam. Ông cũng là đại biểu Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa các khóa IV, V, VI; Ủy viên Ban Văn hóa - Giáo dục của Quốc hội.
    Sau 1975, ông vào sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông mất ngày 19 tháng 6 năm 1989 (tức ngày 16 tháng 5 năm Kỷ Tỵ) tại Bệnh viện Thống Nhất, thành phố Hồ Chí Minh, thọ 69 tuổi.
    Ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật.
    Chế Lan Viên là bố của nhà văn Phan Thị Vàng Anh.
    Quan điểm và phong cách sáng tác

    Con đường thơ của Chế Lan Viên "trải qua nhiều biến động, nhiều bước ngoặt với những trăn trở, tìm tòi không ngừng của nhà thơ"[3], thậm chí có một thời gian dài im lặng (1945-1958).
    Trước Cách mạng tháng 8, thơ Chế Lan Viên là một thế giới đúng nghĩa "Trường thơ loạn": "kinh dị, thần bí, bế tắc của thời Điêu tàn [4] với xương, máu, sọ người, với những cảnh đổ nát, với tháp Chàm. Những tháp Chàm "điêu tàn" là một nguồn cảm hứng lớn đáng chú ý của Chế Lan Viên, qua những phế tích đổ nát và không kém phần kinh dị trong thơ Chế Lan Viên, ta thấy ẩn hiện hình bóng của một vương quốc hùng mạnh thời vàng son, cùng với nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ.
    Sau Cách mạng, thơ ông đã "đến với cuộc sống nhân dân và đất nước, thấm nhuần ánh sáng của cách mạng"[5], và có những thay đổi rõ rệt. Trong thời kì 1960-1975, thơ Chế Lan Viên vươn tới khuynh hướng sử thi hào hùng, chất chính luận, đậm tính thời sự. Sau năm 1975, "thơ Chế Lan Viên dần trở về đời sống thế sự và những trăn trở của cái "tôi" trong sự phức tạp, đa diện và vĩnh hằng của đời sống"[6].
    Phong cách thơ Chế Lan Viên rất rõ nét và độc đáo, nổi bật nhất là "chất suy tưởng triết lí mang vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng, phong phú của hình ảnh thơ được sáng tạo bởi một ngòi bút thông minh, tài hoa"[7]
    Các bút danh

    Ngoài bút danh Chế Lan Viên nổi tiếng, trong bài giới thiệu tập tiểu luận "Những bước đường tư tưởng của tôi" của Xuân Diệu, đăng trên báo "Văn học" tháng 9/1958, ông ký bút danh Thạch Hãn (tên một con sông tỉnh Quảng Trị quê ông). Nhiều bài báo in trên báo "Thống Nhất", xuất bản ở Hà Nội trước tháng 5 năm 1975, ông cũng ký bằng bút danh này.
    Từ năm 1959 đến năm 1963, trong thời gian làm biên tập báo "Văn học", phụ trách chuyên mục Nói chuyện văn thơ, trả lời bạn đọc, ông ký bút danh Chàng Văn. Năm 1961, Nhà xuất bản Văn học đã cho xuất bản hai tập "Vào nghề" và "Nói chuyện văn thơ" của tác giả Chàng Văn.
    Trong mục "Nụ cười xuân" trên báo "Văn học", Chế Lan Viên có hai bài viết ngắn là "Ngô bói Kiều" và "Lý luận Đờ Gôn" ký tên Oah (tức Hoan).
    Bút danh Chế Lan Viên

    Tác phẩm chính

    Thơ
    XuânChế Lan Viên
    Điêu tàn (1937)
    Gửi các anh (1954)
    Ánh sáng và phù sa(1960)
    Hoa ngày thường (1967)
    Chim báo bão (1967)
    Những bài thơ đánh giặc (1972)
    Đối thoại mới (1973)
    Ngày vĩ đại (1976)
    Hoa trước lăng Người (1976)
    Dải đất vùng trời (1976)
    Hái theo mùa (1977)
    Hoa trên đá (1984)
    Ta gửi cho mình (1986)
    Di cảo thơ I, II, III (1992, 1993, 1995)
    Văn
    Vàng sao (1942)
    Thăm Trung Quốc (bút ký, 1963)
    Những ngày nổi giận (bút ký, 1966)
    Bác về quê ta (tạp văn, 1972)
    Giờ của đô thành (bút ký, 1977)
    Nàng tiên trên mặt đất (1985 )
    Tiểu luận phê bình


    Kinh nghiệm tổ chức sáng tác (1952)
    Nói chuyện thơ văn (bút danh Chàng Văn, 1960)
    Vào nghề (bút danh Chàng Văn, 1962)
    Phê bình văn học (1962)
    Suy nghĩ và bình luận (1971)
    Bay theo đường bay dân tộc đang bay (1976)
    Nghĩ cạnh dòng thơ (1981)
    Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân (1981)
    Ngoại vi thơ (1987)
    Tuyển tập thơ Chế Lan Viên (tập I, 1985; tập II, 1990)
    Tuyển tập thơ chọn lọc
    Nàng và tôi (1992)

    Nhận xét

    Chế Lan Viên là nhà thơ luôn có sự tìm tòi, khám phá và sáng tạo. Ông luôn biết kế thừa, phát huy những tinh hoa của nền văn chương và nhân loại để mang lại cho tác phẩm của mình một vẻ đẹp riêng. Ông có sự nhận thức sâu sắc về chức năng của văn chương và sứ mệnh thiêng liêng của người nghệ sĩ đối với cuộc sống.
    Thành tựu nghệ thuật Chế Lan Viên đã đạt được trong quá trình sáng tạo chính là những đóng góp lớn lao đối với sự phát triển của thơ ca Việt Nam nói riêng và văn chương Việt Nam nói chung.


    Xuân Diệu

    Xuân Diệu (2 tháng 2 năm 1916 - 18 tháng 12 năm 1985) là một trong những nhà thơ lớn nhất Việt Nam. Ông nổi tiếng từ phong trào Thơ mới với tập "Thơ thơ" và "Gửi hương cho gió". Những bài được yêu thích nhất của Xuân Diệu là thơ tình làm trong khoảng 1936 - 1944. Ông được tôn vinh là "ông hoàng của thơ tình", "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới" trong phong trào thơ mới đầu thế kỷ 20. Ông từng được Hoài Thanh và Hoài Chân đánh gia trong cuốn Thi nhân Việt Nam (1942) "thiết tha, rạo rực, băn khăn" như Xuân Diệu.
    Tiểu sử, sự nghiệp

    Ông tên thật là Ngô Xuân Diệu, còn có bút danh là Trảo Nha, quê quán làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh nhưng sinh tại Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Cha là ông Ngô Xuân Thọ và mẹ là bà Nguyễn Thị Hiệp.
    Xuân Diệu lớn lên ở Qui Nhơn. Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viên chức ở Mĩ Tho (nay là Tiền Giang), sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn, là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn (1938–1940). Ông tốt nghiệp cử nhânLuật1943 và làm tham tá thương chánh ở Mỹ Tho một thời gian trước khi chuyển về ở Hà Nội.
    Bên cạnh sáng tác thơ, ông còn tham gia viết báo cho các tờ Ngày Nay và Tiên Phong. Ông là một trong những người sáng lập Đoàn báo chí Việt Nam, nay là Hội Nhà báo Việt Nam[1].
    Trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của mình, Xuân Diệu được biết đến như là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới", "ông hoàng của thơ tình".
    Xuân Diệu là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn và cũng đã là một trong những chủ soái của phong trào "Thơ Mới". Tác phẩm tiêu biểu của ông ở giai đoạn này: Thơ Thơ (1938), Gửi Hương Cho Gió (1945), truyện ngắn Phấn Thông Vàng (1939), Trường ca (1945).
    Hai tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió được giới văn học xem như là hai kiệt tác của ông ca ngợi tình yêu và qua các chủ đề của tình yêu là ca ngợi sự sống, niềm vui và đam mê sống. Và ca ngợi tình yêu thì làm sao mà không ca ngợi tuổi trẻ, mùa xuân, ca ngợi thiên nhiên là tổ ấm và cái nôi của tình yêu. Và Xuân Diệu cảm nhận sâu sắc đến đau đớn nỗi thời gian trôi chảy, sự mong manh của đời người cũng như lòng khát khao vĩnh cửu, tất cả đã được diễn tả bằng những câu thơ xúc động, có khi đậm đà triết lý nhân sinh. (Huy Cận, tháng 4 năm 2000)
    Năm 1944, Xuân Diệu tham gia phong trào Việt Minh. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc, làm thư ký tạp chí Tiền phong của Hội. Sau đó ông công tác trong Hội văn nghệ Việt Nam, làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ ở Việt Bắc.
    Xuân Diệu tham gia ban chấp hành, nhiều năm là ủy viên thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam.
    Từ đó, Xuân Diệu trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi cách mạng, một "dòng thơ công dân". Bút pháp của ông chuyển biến phong phú về giọng vẻ: có giọng trầm hùng, tráng ca, có giọng chính luận, giọng thơ tự sự trữ tình. Tiêu biểu là: Ngọn Quốc Kỳ (1945), Một Khối Hồng (1964), Thanh Ca (1982), Tuyển Tập Xuân Diệu (1983).
    Là cây đại thụ của nền thi ca hiện đại Việt Nam, Xuân Diệu đã để lại khoảng 450 bài thơ (một số lớn nằm trong di cảo chưa công bố), một số truyện ngắn, và nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học.
    Xuân Diệu từng là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I. Ông còn được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức năm 1983.
    Ông đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật (1996).
    Tên của ông được đặt cho một đường phố ở Hà Nội.
    Đời sống riêng

    Xuân Diệu đã lập gia đình riêng một lần với NSND Bạch Diệp nhưng hai người đã ly dị và họ không có con chung[2]. Sau khi ly dị ông sống độc thân cho đến lúc mất vào năm 1985. Xuân Diệu là người cùng quê Hà Tĩnh với Huy Cận (làng Ân Phú, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh) nên khi gặp nhau, hai ông đã trở thành đôi bạn thân. Vợ của Huy Cận, bà Ngô Xuân Như là em gái của Xuân Diệu. Có người cho rằng Xuân Diệu cùng với Huy Cận là hai nhà thơ đồng tính luyến ái[3][4]. Huy Cận và Xuân Diệu từng sống với nhau nhiều năm. Những bài thơ "Tình trai", "Em đi" của Xuân Diệu và "Ngủ chung" của Huy Cận được cho là viết về đề tài đó. Theo hồi ký Cát bụi chân ai của Tô Hoài thì Xuân Diệu từng bị kiểm điểm về việc này[5][6].


    Câu nói nổi tiếng

    Trong tập Chân dung và đối thoại, Trần Đăng Khoa ghi lại câu nói của Xuân Diệu:
    "Nhà văn tồn tại ở tác phẩm. Không có tác phẩm thì nhà văn ấy coi như đã chết

    Một vài bài thơ tiêu biểu





    Vội vàng

    Tôi muốn tắt nắng đi
    Cho màu đừng nhạt mất;
    Tôi muốn buộc gió lại
    Cho hương đừng bay đi

    Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
    Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
    Này đây lá của cành tơ phơ phất;
    Của yến anh này đây khúc tình si;
    Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
    Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa;
    Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
    Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa:
    Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
    Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,
    Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
    Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
    Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
    Không cho dài thời trẻ của nhân gian;
    Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
    Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lạị
    Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
    Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
    Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi,
    Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt....
    Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc,
    Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi ?
    Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
    Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa ?
    Chẳng bao giờ, ôi ! chẳng bao giờ nữa...
    Mau đi thôi ! mùa chưa ngả chiều hôm,

    Ta muốn ôm

    Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
    Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
    Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
    Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
    Và non nước, và cây và cỏ rạng,
    Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
    Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
    -- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
    Biển

    Anh không xứng là biển xanh
    Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng
    Bờ cát dài phẳng lặng
    Soi ánh nắng pha lê...

    Bờ đẹp đẽ cát vàng
    Thoai thoải hàng thông đứng
    Như lặng lẽ mơ màng
    Suốt ngàn năm bên sóng...

    Anh xin làm sóng biếc
    Hôn mãi cát vàng em
    Hôn thật khẽ, thật êm
    Hôn êm đềm mãi mãi

    Đã hôn rồi, hôn lại
    Cho đến mãi muôn đời
    Đến tan cả đất trời
    Anh mới thôi dào dạt...

    Cũng có khi ào ạt
    Như nghiến nát bờ em
    Là lúc triều yêu mến
    Ngập bến của ngày đêm

    Anh không xứng là biển xanh
    Nhưng cũng xin làm sóng biếc
    Để hát mãi bên gành
    Khúc tình chung không hết

    Để những khi bọt tung trắng xoá
    Và gió về bay toả nơi nơi
    Như hôn mãi ngàn năm không thoả,
    Bởi yêu bờ lắm lắm, em ơi!

    (4-4-1962)
    Thơ Duyên

    Chiều mộng hoà thơ trên nhánh duyên.
    Cây me ríu rít cặp chim chuyền
    Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá,
    Thu đến nơi nơi động tiếng huyền.

    Con đường nho nhỏ, gió xiêu xiêu,
    Lả lả cành hoang nắng trở chiều.
    Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn.
    Lần đầu rung động nỗi thương yêu

    Em bước điềm nhiên không vướng chân,
    Anh đi lững thững chẳng theo gần,
    Vô tâm - nhưng giữa bài thơ dịu,
    Anh với em như một cặp vần.

    Mây biếc về đâu bay gấp gấp,
    Con cò trên ruộng cánh phân vân,
    Chim nghe trời rộng dang thêm cánh,
    Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần.

    Ai hay tuy lặng bước thu êm,
    Tuy chẳng băng nhân gạ tỏ niềm
    Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy
    Lòng anh thôi đã cưới lòng em.


    Xa cách

    Tặng Đỗ Đức Thu

    Có một bận em ngồi xa anh quá
    Anh bảo em ngồi xích lại gần hơn,
    Em xích gần hơn một chút anh hờn,
    Em ngoan ngoãn xích gần hơn chút nữa.

    Anh sắp giận, em mỉm cười, vội vã
    Đến kề anh, và mơn trớn: "Em đây"
    Anh vui liền, nhưng bỗng lại buồn ngay.
    Vì anh nghĩ, thế vẫn còn xa lắm.

    Đôi mắt của người yêu, ôi vực thẳm!
    Ôi trời xa, vừng trán của người yêu!
    Ta thấy gì đâu sau sắc yêu kiều
    Mà ta riết giữa đôi tay thất vọng.

    Dầu tin tưởng: Chung một đời, một mộng,
    Em là em; anh vẫn cứ là anh.
    Có thể nào qua Vạn Lí trường thành
    Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật.

    Thương nhớ cũ trôi theo ngày tháng mất,
    Quá khứ anh, anh không nhắc cùng em.
    - Linh hồn ta còn u ẩn hơn đêm,
    Ta chưa thấu, nữa là ai thấu rõ.

    Kiếm mãi, nghi hoài, hay ghen bóng gió,
    Anh muốn vào dò xét giấc em mơ,
    Nhưng anh giấu em những mộng không ngờ,
    Cũng như em giấu những điều quá thực...

    Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực!
    Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài!
    Những cánh tay! Hãy quấn riết đôi vai!
    Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt!

    Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt
    Cho anh nghe đôi hàm ngọc của răng;
    Trong say sưa, anh sẽ bảo em rằng:
    "Gần thêm nữa! Thế vẫn còn xa lắm!"
    Lời kỹ nữ

    Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa;
    Vội vàng chi, trăng lạnh quá, khách ơi!
    Đêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời;
    Khách không ở, lòng em cô độc quá!
    Khách ngồi lại cùng em! Đây gối lả,
    Tay em đây mời khách ngả đầu say;
    Đây rượu nồng. Và hồn của em đây,
    Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử.

    Chớ đạp hồn em! Trăng về viễn xứ.
    Đi khoan thai trên ngự đỉnh trời tròn.
    Gió theo trăng từ biển thổi qua non;
    Buồn theo gió lan xa từng thoáng rợn.
    Lòng kỹ nữ cũng sầu như biển lớn,
    Chớ để riêng em phải gặp lòng em;
    Tay ái ân du khách hãy làm rèm,
    Tóc xanh tốt em xin nguyền dệt võng

    Đẩy hộ hồn em triền miên trên sóng,
    Trôi phiêu liêu không vọng bến hay gành;
    Vì mình em không được quấn chân anh,
    Tóc không phải những dây tình vướng víu,
    Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo,
    Trời đầy trăng, lạnh lẽo suốt xương da.
    Người giai nhân: bến đợi dưới cây già;
    Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt.

    Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt,
    Cuộc yêu đương gay gắt vì làng chơi.
    Người viễn du lòng bận nhớ xa khơi
    Gỡ tay vướng để theo lời gió nước.

    Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt.
    Mắt run mờ, kỹ nữ thấy sông trôi.
    Du khách đi. Du khách đã đi rồi.

    (Hà Nội 1939)
    Tương tư chiều

    Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm,
    Anh nhớ em, em hỡi! Anh nhớ em.
    Không gì buồn bằng những buổi chiều êm.
    Mà ánh sáng đều hoà cùng bóng tối.
    Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối:
    Vài miếng đêm u uất lẩn trong cành:
    Mây theo chim về dãy núi xa xanh
    Từng đoàn lớp nhịp nhàng và lặng lẽ
    Không gian xám tưởng sắp tan thành lệ

    Thôi hết rồi! Còn chi nữa đâu em!
    Thôi hết rồi, gió gác với trăng thềm,
    Với sương lá rụng trên đầu gần gũi,
    Thôi đã hết hờn ghen và giận dỗi,
    (Được giận hờn nhau! Sung sướng bao nhiêu).
    - Anh một mình, nghe tất cả buổi chiều
    Vào chậm chậm ở trong hồn hiu quạnh.

    Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh.
    Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi!
    Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi
    Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời.
    Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm.





    Yến Lan

    Yến Lan (1916-1998), tên thật là Lâm Thanh Lang, là một nhà thơ Việt Nam. Ông đã được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
    Tiểu sử

    Yến Lan sinh ngày 2 tháng 3 năm 1916 tại quê: thị trấn Bình Định, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Mồ côi mẹ năm 6 tuổi, Yến Lan sống bằng nghề dạy học tư và viết văn. Ông sáng tác thơ từ sớm và cùng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn hợp thành Bàn thành tứ hữu (bốn người bạn thơ đất Bình Định) nổi tiếng trên thi đàn lúc đó. Trong giai đoạn này, ông cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên sáng tác theo trường phái Thơ loạn (còn gọi là Thơ điên) với những trăng, xương, máu, hồn ma... trong thơ. Sau Cách mạng tháng Tám, ông là Uỷ viên văn hoá Cứu quốc Bình Định (1947–1949); là Uỷ viên văn hoá kháng chiến Nam Trung Bộ, trưởng đoàn kịch Kháng chiến. Từ 1950 đến 1954 ông làm công tác văn hoá văn nghệ ở Bình Định. Sau 1954, Yến Lan tập kết ra Bắc, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957, làm việc tại Nhà xuất bản Văn học và tham gia phong trào Nhân văn - Giai phẩm. Sau khi Việt nam thống nhất năm 1975, ông trở về công tác tại Hội văn nghệ Bình Định và mất tại đây ngày 5 tháng 10 năm 1998. Yến Lan còn có bút danh khác là Xuân Khải và ngoài thơ, ông cũng sáng tác kịch.
    Tác phẩm
    Bóng giai nhân (kịch thơ, viết chung với Nguyễn Bính)
    Gái Trữ La (kịch thơ, 1943)
    Những ngọn đèn (thơ, 1957)
    Tôi đến tôi yêu (thơ, 1965)
    Lẵng hoa hồng (thơ, 1968)
    Giữa hai chớp lửa (thơ, 1978)
    Én Đào (truyện thơ, 1979)
    Thơ Yến Lan (thơ, 1987)
    Cầm chân hoa (thơ tứ tuyệt, 1991)
    Thơ tứ tuyệt (tuyển tập, 1996)
    Thành tựu nghệ thuật

    Nổi tiếng từ Phong trào Thơ mới với "Bến My Lăng" bất hủ, sau này Yến Lan được đánh giá cao với thơ tứ tuyệt. Nhà thơ, nhà phê bình Trúc Thông đã nhận xét: “Trong số lưa thưa bậc hảo hán của thơ tứ tuyệt Việt nam hiện đại, Yến Lan thuộc loại “bố già”. Một “bố già” hiền lành. Không cân quắc, ngang tàng, vang động. Nhưng vẫn đầy cốt cách trong cung cách âm thầm... Trong tứ tuyệt Yến Lan thường nén lại một nông nỗi thở dài. Có khá nhiều cám cảnh. Nhưng cốt cách nghệ sĩ, cốt cách tứ tuyệt đã gây cho người đọc một sự kính trọng”[1]. Trích bài thơ Bến My Lăng:
    Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách,
    Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu.
    Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách,
    Ông lái buồn để gió lén mơn râu....
  3. chipchipsky Chip Còi^^!

    Số bài viết: 1,229
    Đã được thích: 2
    Điểm thành tích: 38
    03 - ĐINH BỘ LĨNH (924 - 979)

    “(Đinh) Tiên Hoàng nhờ có tài năng sáng suốt, mưu lược
    hơn người, dũng cảm nhất đời, đương khi nước Việt ta
    không có chúa, hùng trương đua nhau cát cứ... một
    phen cất quân mà khiến cả mười hai sứ quân đều phải
    hàng phục. Vua mở nước định đô, đổi xưng là Hoàng Đế,
    chia đặt bách quan và sáu quân, chế độ gần như đã
    đầy đủ. Có lẽ trời đã vì nước Việt mà lại sinh đấng
    thánh triết...”.


    Lê Văn Hưu
    (Đại Việt sử kí toàn thư, bản kỉ quyển 1,tờ 2-b và 3-a)


    1. THUỞ THIẾU THỜI

    Đinh Bộ Lĩnh là con của Đinh Công Trứ. Thời Dương Đình Nghệ (931 - 937), Đinh Công Trứ được trao chức Thứ Sử Hoan Châu. Thời Ngô Quyền (938 - 944), Đinh Công Trứ cũng tiếp tục được trao chức ấy, nhưng chưa được bao lâu thì mất. Thân mẫu của Đinh Bộ Lĩnh người họ Đàm, còn như tên húy của bà là gì thì hiện vẫn chưa rõ.

    Đinh Bộ Lĩnh sinh năm Giáp Thân (924) tại quê cha là động Hoa Lư, châu Đại Hoàng, mất năm Kỉ Mão (979), thọ 55 tuổi. Do thân sinh đi làm quan ở xa, cuộc đời của Đinh Bộ Lĩnh gắn bó với thân mẫu nhiều hơn. Sau khi Đinh Công Trứ qua đời, Đinh Bộ Lĩnh cùng thân mẫu dắt díu nhau về dựng nhà và lập nghiệp tại khu vực cạnh đền Sơn Thần động Hon Lư.

    Thuở thiếu thời, Đinh Bộ Lĩnh đã có tính cách khá đặc biệt. Sử cũ viết về thời niên thiếu của Đinh Bộ Lĩnh như sau:

    “Vương (chỉ Đinh Bộ Lĩnh - NKT) lúc nhỏ thường cùng lũ trẻ chăn trâu ở chốn núi rừng vui chơi, được chúng tôn là bậc huynh trưởng. Chúng vẫn thường lấy lễ (đại để như) vua tôi để giúp Vương. Khi vui chơi đùa giỡn, bọn trẻ thường đấu tay làm kiệu để khiêng Vương đi, lại còn lấy bông lau giả làm cờ cho đi trước để dẫn đường, chia làm tả hữu hai phía để theo hầu, nghi vệ chẳng khác gì Thiên Tử. Lúc rảnh rỗi, lũ trẻ lại giục nhau đi kiếm củi về cho Vương, làm y như thể là nạp thuế vậy. Chiều đến, bà thân mẫu của Vương thấy vậy thì vui mừng, bèn mổ heo đãi chúng. Các bậc trưởng lão trong làng đều nói:

    - Đứa trẻ có khí chất và dung nghi phi thường này ắt sẽ trở thành đấng cứu đời, đem lại yên lành cho muôn dân. Bọn ta nếu không sớm theo về, để ngày khác hối hận thì đã muộn.

    Nói rồi, họ thúc giục con em mình theo Vương”.

    hời trai trẻ, Đinh Bộ Lĩnh được dồn dập chứng kiến những biến cố lớn lao của lịch sử nước nhà. Đó là thời họ Khúc khôn khéo đặt nền tảng đầu tiên cho kỉ nguyên độc lập và tự chủ. Đó là thời Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền liên tiếp đánh bại quân Nam Hán xâm lăng. Đó là thời mà thân sinh của Đinh Bộ Lĩnh từng góp phần vào sự nghiệp chung, làm rạng danh gia tộc. Nhưng, đó cũng là thời đau thương. Sau khi Ngô Quyền qua đời, chính quyền trung ương mau chóng suy yếu, các thế lực cát cứ ở khắp các địa phương lần lượt nổi lên. Đất nước loạn li bởi cuộc hỗn chiến giữa các thế lực cát cứ ấy. Theo quy luật đào thải nghiêm khắc và lạnh lùng, tất cả các thế lực yếu đều mau chóng bị tiêu diệt, các thế lực mạnh thì tồn tại lâu hơn. Cuối cùng, cả nước còn lại 12 thế lực mạnh, sử gọi đó là loạn mười hai sứ quân. Danh sách 12 sứ quân này cụ thể như sau:

    01. Ngô Xương Xí chiếm giữ đất Binh Kiều1.

    02. Kiều Công Hãn chiếm giữ đất Phong Châu2 và xưng là Kiều Tam Chế.

    03. Kiều Thuận chiếm giữ đất Hồi Hồ3 và xưng là Kiều Lệnh Công.

    04. Nguyễn Khoan chiếm giữ đất Tam Đái4, xưng là Nguyễn Thái Bình.

    05. Ngô Nhật Khánh chiếm giữ đất Đường Lâm5, xưng là Ngô Lãm Công.

    06. Đỗ Cảnh Thạc chiếm đất Đỗ Động Giang6, xưng là Đỗ Cảnh Công.

    07. Lý Khuê chiếm giữ đất Siêu Loại7 và xưng là Lý Lãng Công.

    08. Lữ Đường (cũng đọc là Lã Đường), chiếm giữ đất Tế Giang8 và xưng là Lữ Tá Công.

    09. Nguyễn Thủ Tiệp chiếm giữ đất Tiên Du9, xưng là Nguyễn Lệnh Công

    10. Nguyễn Siêu chiếm giữ đất Phù Liệt10, xưng là Nguyễn Hữu Công

    11. Phạm Bạch Hổ chiếm giữ đất Đằng Châu11, xưng là Phạm Phòng Át.

    12. Trần Lãm chiếm giữ đất Bố Hải Khẩu12, xưng là Trần Minh Công.

    1. Nay thuộc huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
    2. Nay thuộc huyện Phong Châu, tỉnh Vĩnh Phú.
    3. Thời Hán, đó là đất Cẩm Khê. Thời Lê, đó là đất huyện Hoa Khê. Nay là đất huyện Sông Thao, tỉnh Vĩnh Phú.
    4. Nay thuộc huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phú.
    5. Nay thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây.
    6. Nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây.
    7. Nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc.
    8. Nay thuộc huyện Mỹ Văn, tỉnh Hải Hưng.
    9. Nay thuộc huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc.
    10. Nay thuộc huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội.
    11. Nay thuộc huyện Kim Thi, tỉnh Hải Hưng.
    12. Nay là vùng thị xã Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

    Loạn mười hai sứ quân đã khiến cho dân tình khốn khổ, thế nước suy vi và tạo điều kiện thuận lợi cho giặt ngoại xâm có thể lợi dụng để tràn vào nước ta bất cứ lúc nào. Chưa bao giờ nhu cầu tái lập vào bảo vệ nền thống nhất quốc gia lại trở nên bức thiết như lúc này.
    2. VUNG GƯƠM DẸP LOẠN

    Sứ cũ chép:

    “Bấy giờ, trong cõi không có chúa, Vương (chỉ Đinh Bộ Lĩnh - NKT) nghe tin Trần Minh Công (tức sứ quân Trần Lãm - NKT) là người giỏi nhưng lại không có con nối dõi, bèn đến xin nương nhờ. Trần Minh Công thoáng trông đã biết Vương là bậc có khí chất hơn người, liền nhận làm con và đem hết binh quyền giao phó cho”1.

    Đoạn ghi chép ngắn ngủi nói trên cho thấy rõ, Đinh Bộ Lĩnh đã bắt đầu sự nghiệp dẹp loạn bằng cách tìm đến để nương nhờ Trần Lãm là một trong những sứ quân mạnh nhất đương thời. Đó là một sự chọn lựa rất thông minh, bởi vì ngoài những lí do mà sử cũ đã kể, lãnh địa của Trần Lãm có một vị trí rất quan trọng đối với cục diện chung. Nắm giữ được lãnh địa ấy cũng có nghĩa là nắm được kho lương thực và thực phẩm lớn nhất.

    Dựa vào ưu thế đặc biệt của mình, Đinh Bộ Lĩnh đã lần lượt đánh bại các sứ quân. Đến cuối năm Đinh Mão (967), sự nghiệp dẹp loạn của Đinh Bộ Lĩnh hoàn thành. Sang đầu năm Mậu Thìn (968), ngay sau khi Trần Lãm qua đời, Đinh Bộ Lĩnh đã lên ngôi Hoàng Đế, xưng là Đinh Tiên Hoàng, định đô ở Hoa Lư, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Đến năm Canh Ngọ (970), Đinh Tiên Hoàng đặt niên hiệu là Thái Bình.

    Từ đây, triều Đinh được dựng lên và với tư cách là Hoàng Đế Đinh Bộ Lĩnh đã có những đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp kiến thiết quốc gia. Sứ thần Ngô Sĩ Liên nói rằng:

    “Đế vương dấy nghiệp, không có ai là không nhờ ở mệnh trời. Nhưng, thánh nhân không bao giờ cậy có mệnh trời mà không làm hết phận sự của mình. Khi việc lớn đã thành thì lại càng phải lo nghĩ cách đề phòng. Sửa sang lễ nhạc, hình án và chính sự là để phòng giữ lòng người. Đặt nhiều lần cửa và đánh hiệu canh là để phòng kẻ hung bạo. Lòng dục không cùng, việc đời vô bờ vô bến, không thể không đề phòng trước được. Đó là cách nghĩ xa cho đời sau, mưu tính cho con cháu”2.

    Tuy nhiên, là người xưng Đế đầu tiên của kỉ nguyên độc lập tự chủ và thống nhất, mọi việc mà Đinh Tiên Hoàng đã làm đều chỉ mới có ý nghĩa mở đầu. Một số Nho sĩ đời sau lấy khuôn mẫu chặt chẽ của thời đại họ làm chuẩn để đánh giá, đã có ý chê Đinh Tiên Hoàng sơ sài trong việc trị nước. Những lời chê ấy quả là không sai nhưng thật khó mà nói là đúng.

    Đinh Bộ Lĩnh không phải là danh tướng chống xâm lăng, nhưng, võ công oanh liệt của ông thực sự đã góp phần rất to lớn vào sự nghiệp giữ nước. Từ đây, độc lập dân tộc và thống nhất quốc gia luôn luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, trở thành hai mặt bản chất nhất, nổi bật nhất của lịch sử nước ta. Thắng lợi của mặt này là tiền đề, là cơ sở thắng lợi của mặt kia và ngược lại.

    Năm 979, Đinh Bộ Lĩnh bị kẻ phản nghịch là Đỗ Thích giết hại. Ông mất khi triều Đinh mới được hơn mười năm, khi vận nước đang bắt đầu lâm nguy bởi mưu đồ bành trướng của nhà Tống ở phương Bắc.
  4. binhminh88 New Member

    Số bài viết: 225
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
  5. trungkien_3600 Guest

    Số bài viết: 0
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
  6. chipchipsky Chip Còi^^!

    Số bài viết: 1,229
    Đã được thích: 2
    Điểm thành tích: 38
    04. LÊ HOÀN (941 – 1005)

    “Vua đánh đâu được đấy: Chém vua Chiêm Thành để
    rửa mối nhục bị bọn phiên di bắt giữ sứ giả của mình;
    đánh tan quân của vua nước Tống là người vốn dòng họ
    Triệu, mau chóng đập tan mưu đồ của họ. Có thể coi
    vua là đấng anh hùng nhất đời vậy”.


    Ngô Sĩ Liên
    (Đại Việt sử kí toàn thư, bản kỉ, quyển l)

    1. ĐẠI LƯỢC VỀ LÍ LỊCH

    Sách Đại Việt sử lược chép rằng Lê Hoàn người Trường Châu, nhưng sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 1, tờ 13-a) lại nói Lê Hoàn người Ái Châu. Sử cũ chép không nhất quán, song, các cuộc khảo sát sau này đều cho kết quả chung, rằng Lê Hoàn người làng Trung Lập, Ái Châu, nay làng này thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

    Các bộ chính sử và dã sử xưa đều chép rằng Lê Hoàn sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Sửu (tức năm 941) tại Ái Châu. Thân sinh của Lê Hoàn là Lê Mịch, thân mẫu người họ Đặng nhưng chưa rõ tên là gì. Gia đình Lê Hoàn thuộc tầng lớp nghèo khổ ở Ái Châu, đã thế, cả thân sinh lẫn thân mẫu đều nối nhau qua đời sớm, cho nên, tuổi thơ của Lê Hoàn đầy gian nan, cơ cực. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (chính biên, quyển 1, tờ 14 và 15.) chép rằng:

    “Trước kia, mẹ của vua là Đặng Thị, khi đang có thai bỗng nằm mơ thấy bụng mình nở ra hoa sen và hoa sen ấy kết thành hạt ngay. Đặng Thị lấy chia cho mọi người nhưng mình lại không ăn. Tỉnh dậy (Đặng Thị) lấy làm lạ lắm. Đến khi sinh con thấy con có dáng mạo khác thường, Đặng Thị nói với mọi người rằng:

    - Thằng bé này về sau ắt sẽ làm nên cơ nghiệp lớn, chỉ tiếc là tôi chẳng kịp hưởng lộc mà thôi.

    Được độ vài năm, thân mẫu rồi thân sinh (của Lê Hoàn) đều mất. Khi ấy, có viên quan giữ chức Quan Sát ở Ái Châu người họ Lê (hiện chưa rõ tên), thấy Vua có dáng mạo khác thường, bèn nhận làm con nuôi. Một năm, trời mùa đông rét mướt, Vua phải nằm phục xuống như hình cối úp (cho đỡ rét), chẳng dè đêm đến, cả nhà rực ánh sáng lạ bởi có con rồng vàng nằm che trên Vua. Viên quan họ Lê càng lấy làm lạ.

    Khi lớn lên, vua từng giúp việc cho Nam Việt Vương (Đinh) Liễn (con trai trưởng của Đinh Tiên Hoàng - NKT), tỏ ra có tài trí và chí lớn hơn người. (Đinh) Tiên Hoàng khen là người có mưu lược và khỏe mạnh, lúc đầu giao cho cai quản hai ngàn quân, sau thăng dần đến chức Thập Đạo Tướng Quân, Điện Tiền Chỉ Huy Sứ”.

    Đinh Tiên Hoàng có ba người con trai được sử sách chép tới. Con trưởng là Đinh Liễn, người từng cùng Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn mười hai sứ quân. Tháng năm (nhuận) năm Kỉ Tị (969), Đinh Liễn đã được phong làm Nam Việt Vương. Năm Nhâm Thân (972) Nam Việt Vương Đinh Liễn được cử làm sứ giả sang nhà Tống. Năm Ất Hợi (975) Nam Việt Vương Đinh Liễn được nhà Tống phong làm Khai Phủ Nghi Đồng Tam Ti, hàm Kiểm Hiệu Thánh Sư, tước Giao Chỉ Quận Vương. Tóm lại, việc kế vị trong tương lai của Đinh Liễn đã rất rõ. Nhưng, tháng giêng năm Mậu Dần (978), Đinh Tiên Hoàng vì quá yêu mến người con út còn nhỏ tuổi là Hạng Lang nên đã lập Hạng Lang làm Thái Tử. Việc này khiến cho Đinh Liễn uất ức. Đầu năm Kỉ Mão (979), Đinh Liễn đã giết chết Hạng Lang. Và đến tháng mười năm ấy, thì cả Đinh Tiên Hoàng lẫn Đinh Liễn đều bị bề tôi nhỏ là Đỗ Thích giết hại.

    Con thứ của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Toàn, do bà Hoàng Hậu Dương Vân Nga sinh hạ vào năm Giáp Tuất (974). Năm Mậu Dần (978), khi Hạng Lang được phong làm Thái Tử thì Đinh Toàn được phong làm Vệ Vương. Cuối năm 979, khi Đỗ Thích giết hại cả Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn, triều đình bèn tôn Đinh Toàn (lúc này mới 5 tuổi) lên ngôi Hoàng Đế. Tháng 7 năm Canh Thìn (980), trước nguy cơ bị quân Tống xâm lăng, triều đình bèn tôn quan Thập Đạo Tướng Quân là Lê Hoàn lên ngôi Hoàng Đế. Đinh Toàn bị giáng làm Vệ Vương như cũ và được Lê Hoàn thương như con đẻ của mình. Năm Tân Sửu (1001), Đinh Toàn mất khi cùng với Lê Hoàn di đánh dẹp ở Cử Long (vùng người Mường, nay thuộc huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.), hưởng dương 27 tuổi.

    Người con út là Hạng Lang, bị giết khi còn quá nhỏ, không để lại chính tích gì đáng kể.

    Như vậy là Lê Hoàn được tôn lên ngôi Hoàng Đế trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của đất nước. Bá quan văn võ đã tin ở Lê Hoàn và Lê Hoàn cũng đã thực sự xứng đáng với niềm tin lớn lao đó. Từ đây, triều Lê được dựng lên. Để phân biệt với triều do Lê Lợi dựng lên sau này, sử gọi triều Lê mở đầu từ Lê Hoàn là triều Tiền Lê. Ngay sau khi lên ngôi, Lê Hoàn đã lãnh đạo cả nước đập tan hoàn toàn cuộc xâm lăng của quân Tống vào năm 981, và ngay năm sau (982) lại trừng trị đích đáng hành vi quấy phá của Chiêm Thành. Khi biên giới mặt Bắc và mặt Nam đều đã được ổn định, Lê Hoàn đã tiến hành xây dựng và củng cố sức mạnh của đất nước. Lê Hoàn ở ngôi 25 năm (980 - 1005) và trong thời gian ở ngôi, đã dùng ba niên hiệu khác nhau:

    - Thiên Phúc (980-988) vốn là niên hiệu cũ của Đinh Toàn.

    - Hưng Thống (989 - 993).

    - Ứng Thiên (994 - 1005).

    Tháng 3 năm Ất Tị (1005), Lê Hoàn mất vì bệnh, hưởng thọ 65 tuổi. Người đời và cả một số ít sử sách vẫn gọi Lê Hoàn là Lê Đại Hành, nhưng các sử thần lỗi lạc, cũng là các bậc danh Nho thuở xưa thì không đồng ý như vậy. Bảng Nhãn Lê Văn Hưu (1230 - 1322) nói:

    “Thiên Tử và Hoàng Hậu, khi mới băng, chưa chôn vào sơn lăng thì gọi là Đại Hành Hoàng Đế hoặc Đại Hành Hoàng Hậu. Đến khi đã táng vào sơn lăng yên ổn đâu đó rồi thì họp bầy tôi lại để bàn định đức hạnh hay dở mà đặt thụy hiệu, không gọi là Đại Hành nữa. Nhưng, Lê Hoàn thì lấy Đại Hành làm thụy hiệu rồi truyền mãi đến nay là vì sao? ấy là vì (Lê) Ngọa Triều là đứa con bất tiếu, triều đình lại không có bề tôi Nho học để bàn giúp việc đặt thụy hiệu nên mới đến nỗi như thế” (Đại Việt sử kí toàn thư, bản kỉ, quyển 1, tờ 25-a).

    Lê Hoàn có 12 người con trai, gồm 11 người con ruột và 1 người con nuôi. Tiếc thay, nếu Lê Hoàn là biểu tượng nổi bật của tinh hoa lịch sử trong thế kỉ thứ 10, thì các con trai của ông lại chỉ có đức hạnh rất tầm thường. Đó chính là nguyên do dẫn đến sự cáo chung của triều Tiền Lê vào cuối năm 1009.

    Triều Tiền Lê do Lê Hoàn sáng lập truyền nối được ba đời, kéo dài tổng cộng 29 năm, gồm: Lê Hoàn (980 - 1005), Lê Trung Tông (ở ngôi 3 ngày của tháng 11 năm 1005) và Lê Long Đĩnh tức Lê Ngọa Triều (1005-1009). Tất cả sự nghiệp lớn của triều Tiền Lê đều do Lê Hoàn tạo lập nên. Cống hiến của Lê Hoàn trải rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, tên tuổi của Lê Hoàn sở dĩ trở nên bất diệt với lịch sử, trước hết và chủ yếu là nhờ ở tài thao lược tuyệt vời. Lê Hoàn là một trong những vị danh tướng của nước nhà.

    05 - LÝ THƯỜNG KIỆT (1019 – 1105)

    “Ông là người giàu mưu lược, có biệt tài làm tướng súy,
    làm quan trải thờ ba đời vua, phá Tống, bình Chiêm, công
    lao đức vọng ngày một lớn, được vua sủng ái, là người
    đứng đầu các bậc công hầu vậy”.


    Phan Huy Chú
    (Lịch triều hiến chương loại chí - Nhân vật chí)


    1. Quê hương và cuộc đời

    Đúng như Phan Huy Chú nói, Lý Thường Kiệt là “người đứng đầu các bậc công hầu” của triều Lý. Nhưng, ông lại không phải là người họ Lý chính tông. Hầu hết các tài liệu cổ đều nói rằng Lý Thường Kiệt vốn người họ Ngô, tên húy là Tuấn. Ngô Tuấn người làng An Xá, huyện Quảng Đức. Đất huyện Quảng Đức nay thuộc Hà Nội, làng An Xá nằm ở phía Nam của Hồ Tây. Về sau, do việc mở rộng đê Cơ Xá (tức đê sông Hồng), làng An Xá dời đến bãi Cơ Xá. Bãi này, sau vì dân đến lập nghiệp đông, lập một xã mới, đó là xã Phúc Xá. Gia đình Ngô Tuấn ở trong thôn Bắc Biên của xã này. Thôn Bắc Biên xưa, nay là xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Tuy nhiên, đó chỉ là nơi sinh và là đất sống thuở hàn vi của Ngô Tuấn mà thôi. Sau này, khi đã có danh vọng lớn trong triều, ông dời nhà về phường Thái Hòa (nay thuộc nội thành Hà Nội).

    Ngô Tuấn tự là Thường Kiệt, sau vì có công, được vua sủng ái nên được ban quốc tính (tức được lấy theo họ của nhà vua), do đó, người đời vẫn quen gọi Ngô Tuấn theo cách ghép giữa quốc tính với tên tự là Lý Thường Kiệt. Sử cũ cũng chép theo cách này, vì vậy, hậu thế phần lớn chỉ biết đến tên gọi phổ biến là Lý Thường Kiệt, ít ai biết đến họ và tên thật của ông là Ngô Tuấn.

    Lý Thường Kiệt sinh năm Kỉ Mùi (1019), tức là năm Thuận Thiên thứ 10, đời vua Lý Thái Tổ (1010 - 1028). Sử cũ chép rằng, lúc còn trai trẻ, ông là người có vẻ mặt “tươi đẹp lạ thường”, cho nên, năm 23 tuổi, được tuyển làm Hoàng Môn Chi Hậu, tức là một chức hoạn quan nhỏ ở trong triều. Nhưng cũng từ đây, Lý Thường Kiệt bắt đầu một quá trình lâu dài và liên tục, tỏ cho thiên hạ thấy rằng, ông không phải chỉ có vẻ mặt “tươi đẹp lạ thường” mà còn có cốt cách và tài năng phi thường.

    Lý Thường Kiệt làm quan trải thờ ba đời vua là Lý Thái Tông (1028 - 1054), Lý Thánh Tông (1054 - 1072) và Lý Nhân Tông (1072 - 1127). Từ một chức hoạn quan nhỏ, Lý Thường Kiệt được thăng dần đến chức Phụ Quốc Thái Phó, Dao Thụ Chư Trấn Tiết Độ, Đồng Trung Thư Môn Hạ, Thượng Trụ Quốc, hà Thái Úy, tước Khai Quốc Công và được nhận làm Thiên Tử Nghĩa Đệ (em kết nghĩa của Thiên Tử).

    Sinh thời, Lý Thường Kiệt có ba cống hiến lớn. Một là không ngừng nêu cao tấm gương sáng ngời về tinh thần đoàn kết vì nghĩa cả, không ngừng nêu cao phẩm giá trung quân ái quốc tốt đẹp của bậc đại thần khi vận nước lâm nguy cũng như khi non sông được thái bình. Hai là, góp phần đắc lực cùng vua và triều đình trong sự nghiệp xây dựng đất nước, đặc biệt là góp phần củng cố sức mạnh của guồng máy nhà nước đương thời. Ba là, vạch kế hoạch chiến lược và trực tiếp chỉ huy những trận đánh lừng danh nhất của thế kỉ XI, đập tan hoàn toàn mưu đồ xâm lăng nguy hiểm và xảo quyệt của quân Tống, bảo vệ vững chắc nền độc lập của nước nhà. Trong khoảng thời gian chừng hơn một chục năm sau khi Lý Thánh Tông qua đời (1069), Lý Thường Kiệt thực sự là linh hồn của đất nước, là người chịu trách nhiệm lớn nhất trong sự nghiệp điều khiển vận mệnh quốc gia. Ở một chừng mực nào đó, cũng có thể nói rằng, Lý Thường Kiệt gần như là vua của nước nhà trong giai đoạn khó khăn nhất của đất nước ở thế kỉ XI.

    Về mặt văn hóa, Lý Thường Kiệt cũng đã có những đóng góp to lớn. Ông đã để lại cho đời một số áng văn thơ, trong đó, nổi bật nhất là bài tứ tuyệt không đề, được hậu thế chọn bốn chữ đầu trong câu đầu làm đề để dễ truyền tụng, đó là bốn chữ Nam quốc sơn hà. Nam quốc sơn hà là một trong những áng thiên cổ hùng văn, có giá trị như bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của nước nhà.

    Lý Thường Kiệt qua đời vào tháng sáu năm Ất Dậu (1105) thọ 86 tuổi. Điều đáng nói là trước khi qua đời một năm (năm 1104, tức là năm đã 85 tuổi), Lý Thường Kiệt vẫn còn là tướng tổng chỉ huy quân đội, đã đánh và đánh thắng một trận rất lớn ở phía Nam đất nước.

    Năm 1126 (tức là 23 năm sau khi Lý Thường Kiệt qua đời) nhà sư Thích Pháp Bảo có soạn bài Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh (bài minh, khắc trên bia, đặt ở chùa Linh Xứng, núi Ngưỡng Sơn), trong đó có đoạn:

    Việt hữu Lý công,
    Cổ nhân chuẩn thức.
    Mục quận ký minh,
    Chưởng sự tất khắc.
    Danh dương hàm hạ,
    Thanh chấn hà vực.


    Đoạn này đại để có nghĩa là:

    Nước Việt có người họ Lý,
    Theo đúng phép của người xưa.
    Đã cầm quân là tất thắng lợi,
    Đã trị nước thì dân được yên.
    Danh lẫy lừng thiên hạ,
    Tiếng vang khắp xa gần.

    Đền thờ Lý Thường Kiệt được lập nên rất nhiều nơi trong khắp đất nước ta. Và ngày nay, không ít những ngôi đền này vẫn còn được lưu giữ.
  7. binhminh88 New Member

    Số bài viết: 225
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    bác Chip2sky này kiếm được nhìu tài liệu quá. chẳng bù cho em chả kiếm được nhìu sách:012::012::012:
  8. chipchipsky Chip Còi^^!

    Số bài viết: 1,229
    Đã được thích: 2
    Điểm thành tích: 38
    Dân ta phải biết sử ta
    Nếu ta không biết thì ta .... Google
    :012::012::012:

    Hehe mấy dòng trên chỉ mang tính chất tham khảo là đọc để biết thôi. Bác nào rảnh thì đọc và ủng hộ. Tui cũng đam mê lịch sử nước nhà nên nhân dịp này mong kiếm được nhiều tài liệu hay để đọc và chia sẽ cùng anh em. :007::007::007:
  9. chipchipsky Chip Còi^^!

    Số bài viết: 1,229
    Đã được thích: 2
    Điểm thành tích: 38
    12. TRẦN HƯNG ĐẠO (? - 1300)

    Ngô Tiên Chúa cả phá quân Lưu Hoằng Thao, Trần Hưng Đạo bắt sống Ô-mã-nhỉ,
    đều là ở sông Bạch Đằng và đều là những võ công lừng lẫy nhất của nước ta.
    Danh tiếng các vị hào kiệt ấy đời đời còn mãi với ngàn thu sông núi. Dấu vết
    hôi tanh của giặc Hán và giặc Nguyên cũng còn mãi với nước non ta, làm sao mà
    rửa hết được. Giang sơn của nước Nam này đã được định rõ trong sách trời.
    Giặc Bắc dẫu có cậy trí lực mạnh để chiếm cứ thì rốt cuộc, lấy được cũng không
    thể nào giữ được. Vậy thì tham việc binh đao phỏng có ích gì? Bài Bạch Đằng
    giang phú
    của Trương Hán Siêu có câu: “Binh khí vất đầy như đụn cát,
    xương khô chất đống như non cao; Có trận thắng lớn nào là nhờ Đại Vương biết
    tiên liệu trước
    ”. Nghiền ngẫm thật kĩ mới hay lời văn thực đã diễn tả được nỗi
    đau bại trận của nhà Hán và nhà Nguyên rồi vậy.


    Ngô Thì Sĩ
    (Việt sử tiêu án)

    1. TÓM LƯỢC VỀ TIỂU SỬ

    Sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 5, tờ 1-a) cho hay, tiên tổ của họ Trần là Trần Kinh, người làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường. Làng này nay là xã Tức Mạc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Hà. Trần Kinh sinh ra Trần Hấp, Trần Hấp sinh ra Trần Lý, Trần Lý sinh ra Trần Thừa. Kể từ Trần Thừa trở về trước, người họ Trần ở làng Tức Mặc đời đời đều làm nghề chài lưới. Trần Thừa có sáu người con (bốn trai, hai gái). Con trai thứ của Trần Thừa là Trần Cảnh, về sau là vua đầu của triều Trần (Trần Thái Tông: 1226 – 1258), cho nên, Trần Thừa được tôn làm Thượng Hoàng và khi mất, miếu hiệu là Trần Thái Tổ, dẫu trong thực tế, Trần Thừa chẳng hề làm vua ngày nào.

    Con trai trưởng của Trần Thừa là Trần Liễu. Khi em là Trần Cảnh làm vua, Trần Liễu được phong là An Sinh Vương. Hiện vẫn chưa rõ An Sinh Vương Trần Liễu có mấy người con, chỉ thấy sử cũ nhắc đến ba người. Con trai trưởng là Trần Doãn. Trần Doãn được phong là Vũ Thành Vương nhưng rất tiếc là vì những hiềm khích nội bộ, năm 1257, Vũ Thành Vương Trần Doãn đã đem cả gia quyến chạy sang Trung Quốc và bị viên Thổ Quan của Trung Quốc ở phủ Tư Minh bắt nạp lại cho triều Trần. Người con thứ năm của Trần Liễu là Trần Thị Thiều. Tháng 8 năm 1258, Trần Thị Thiều được gả cho vua Trần Thánh Tông (1258 - 1278), lúc đầu được phong là Thiên Cảm Phu Nhân và ít lâu sau thì phong là Thiên Cảm Hoàng Hậu. Bà chính là thân mẫu của vua Trần Nhân Tông (1278 – 1293).

    Trong số những người con của An Sinh Vương Trần Liễu, nổi bật hơn cả vẫn là Trần Quốc Tuấn. Trần Quốc Tuấn về sau được phong là Hưng Đạo Vương, vì thế, người đời vẫn quen gọi ông là Trần Hưng Đạo.

    Trần Hưng Đạo mất ngày 20 tháng 8 năm Canh Tí (1300) nhưng hiện tại, vẫn chưa xác định được năm sinh của ông, đại để chỉ biết ông thọ khoảng 70 tuổi, tức là sinh vào khoảng dăm năm sau khi triều Trần được dựng lên.

    Sách Trần triều thế phả hành trạng nói Trần Hưng Đạo sinh vào ngày 10 tháng chạp năm 1251.
    Điều này không thể tin, vì các bộ chính sử đều chép rằng Trần Hưng Đạo cưới vợ vào tháng 1 năm
    1251, tức là trước đó những ngót một năm.

    Ông Lam Sơn trong sách Hưng Đạo Đại Vương (xuất bản năm 1946) nói rằng Trần Hưng Đạo
    sinh ngày 10 tháng chạp năm 1228, nhưng không cho biết là ông đã dựa vào cơ sở nào để viết như thế.

    Ông Hoàng Thúc Trâm trong sách Trần Hưng Đạo (xuất bản năm 1950) viết: “Trần Quốc Tuấn
    sinh vào khoảng niên hiệu Kiến Trung hồi đầu Trần, lối năm Kiến Trung thứ tư (1228) đến thứ bảy
    (1231), và ngài thọ trên dưới bảy mươi tuổi, độ từ 69 đến 72”

    Các dịch giả sách Binh thư yếu lược (Nhà Xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1970) cũng viết
    tương tự rằng: “Ông sinh vào khoảng những năm 1226, 1227, 1228 hoặc 1229 gì đó”.

    Chính sử không ghi chép, nhưng dựa vào nhiều tài liệu khác nhau, các nhà nghiên cứu về lịch sử Phật
    Giáo Việt Nam đánh giá rất cao vị trí của Trần Tung (tức Tuệ Trung Thượng Sĩ). Trần Tung là anh
    của Trần Hưng Đạo (hiện vẫn chưa rõ có phải là anh em cùng cha cùng mẹ hay không), mà Trần Tung
    sinh năm 1230, thì theo lẽ thường, Trần Hưng Đạo phải sinh sau năm 1230.
  10. Mạnh Khùng Member

    Số bài viết: 107
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 16
  11. innocence91 Member

    Số bài viết: 404
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 16
  12. Diu_HoiSV New Member

    Số bài viết: 374
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Tôi tự hỏi bạn chip copy cái mớ bài dài dằng dặc đó quăng về diễn đàn, bạn đã đọc hết chưa? Nếu chưa thì làm gì có ai hơn bạn, có đủ kiên nhẫn để mà đọc hết cơ chứ. Nếu có người đọc hết thì người đó cũng phải là người đam mê lịch sử đến chết mê chết mệt kìa.
    Biết dân ta phải biết sử ta cho biết nguồn biết cội. Nhưng bạn quăng ngay 1 mớ lên đây thì ai cũng ngán, chẳng ai còn kiên nhẫn để mà theo dõi đâu.
    Sao ta không có một hình thức khác hấp dẫn bạn đọc hơn, ví dụ như từng tuần ta thảo luận về một chủ đề lịch sử nào đó. Để thảo luận được thì người đó phải đọc tài liệu và có hiểu biết nhất định rồi. Hoặc là thay vì post cả chục trang dài dằng dặc, bạn hãy kiếm những mẩu chuyện sống động, hoặc là truyện có hình minh họa. Như thế sẽ hấp dẫn người đọc hơn nhiều.
    Có tinh thần đóng góp, xây dựng diễn đàn là tốt. Nhưng trước khi đóng góp, bạn cũng cần phải suy nghĩ sao cho có nhiều người đọc, không nên chỉ lên google search ra một đống tài liệu rồi quăng lên đó là xong, không quan tâm có ai đọc hay ai ngán...
    Phải làm sao để hấp dẫn người đọc, có như thế, công sức của bạn cũng đã được trân trọng. Mà diễn đàn lại trở nên hấp dẫn hơn. Phải không nè?
  13. vth_87 Member

    Số bài viết: 297
    Đã được thích: 2
    Điểm thành tích: 18
  14. ngocan1406 New Member

    Số bài viết: 18
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
  15. myth New Member

    Số bài viết: 63
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Hàn Mặc Tử

    Hàn Mặc Tử (22 tháng 9, 1912 – 11 tháng 11, 1940) là một nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam, là người khởi xướng ra trường thơ loạn, trường thơ điên.
    Tiểu sử

    Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ở làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình. Hàn Mạc Tử, Lệ Thanh, Phong Trần là các bút danh khác của ông. Ông có tài năng làm thơ từ rất sớm. Ông cũng đã từng gặp gỡ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của chí sỹ này. Ông được Phan Bội Châu giới thiệu bài thơ Thức khuya của mình lên một tờ báo. Sau này, ông được một suất học bổng đi Pháp nhưng vì quá thân với Phan Bội Châu nên đành đình lại. Ông quyết định lên Sài Gòn lập nghiệp. Năm đó ông 21 tuổi............................................................................................................................................

    Bình luận và nhận xét

    Đánh giá và bình luận về tài thơ của Hàn Mặc Tử có rất nhiều, sau đây là một số đánh giá của các nhà thơ văn nổi tiếng:
    "Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình"
    "Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mạc Tử."
    (Nhà thơ Chế Lan Viên)
    "Sẽ không thể giải thích được đầy đủ hiện tượng Hàn Mặc Tử nếu chỉ vận dụng thi pháp của chủ nghĩa lãng mạn và ảnh hưởng của Kinh thánh. Chúng ta cần nghiên cứu thêm lý luận của chủ nghĩa tượng trưng và chủ nghĩa siêu thực. Trong những bài thơ siêu thực của Hàn Mặc Tử, người ta không phân biệt được hư và thực, sắc và không, thế gian và xuất thế gian, cái hữu hình và cái vô hình, nội tâm và ngoại giới, chủ thể và khách thể, thế giới cảm xúc và phi cảm xúc. Mọi giác quan bị trộn lẫn, mọi lôgic bình thường trong tư duy và ngôn ngữ, trong ngữ pháp và thi pháp bị đảo lộn bất ngờ. Nhà thơ đã có những so sánh ví von, những đối chiếu kết hợp lạ kỳ, tạo nên sự độc đáo đầy kinh ngạc và kinh dị đối với người đọc."
    (Nhà phê bình văn học Phan Cự Đệ)
    "Hàn Mặc Tử có khoảng bảy bài hay, trong đó có bốn bài đạt đến độ toàn bích. Còn lại là những câu thơ thiên tài. Những câu thơ này, phi Hàn Mặc Tử, không ai có thể viết nổi. Tiếc là những câu thơ ấy lại nằm trong những bài thơ còn rất nhiều xộc xệch..."
    (Nhà thơ Trần Đăng Khoa)
    "...Theo tôi thơ đời Hàn Mặc Tử sẽ còn lại nhiều. Ông là người rất có tài, đóng góp xứng đáng vào Thơ mới."
    (Nhà thơ Huy Cận)
    "...Một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng..." và "Vườn thơ Hàn rộng không bờ không bến càng đi xa càng ớn lạnh..."
    (Nhà phê bình văn học Hoài Thanh)

    Bạn Mr Mai ! mình thích ông Hàn Mặc Tử lắm, mình thấy bạn biết về nhà thơ này cũng khá nhiều, bạn có thể nói cho mình biết vì sao Hàn Mặc Tử mắc bệnh hủi được không, xem phim về ông nhiều lần rồi mà vẫn chưa tìm được nguyên nhân ông bị bệnh.
  16. chipchipsky Chip Còi^^!

    Số bài viết: 1,229
    Đã được thích: 2
    Điểm thành tích: 38
    Rất tiếc vì không có ai ủng hộ nên topic này đã đóng cửa từ lâu, bài post cuối cùng của chip là vào ngày 18.6.2009, tự nhiên có bác này đào cái mỏ này lên, những bài mà chip đã post lên chip đã tham khảo nhiều tài liệu, đối chứng những tài liệu này với nhau và đã rút gọn đi rất nhiều, không đơn giản chỉ là copy và paste. Sau khi lập topic này thì nhận ra một điều.

    Dân ta phải biết sử ta
    Nếu ta không biết thì ta .... Google :012::012::012:

Chia sẻ trang này