1. THÔNG BÁO TUYỂN ADMIN DIỄN ĐÀN 2013
    Tìm kiếm nhà trọ - Ở ghép
    THÔNG BÁO BÁN ÁO SPKT.NET CHO THÀNH VIÊN DIỄN ĐÀN


    HÃY TÌM KIẾM Ở ĐÂY TRƯỚC KHI ĐẶT CÂU HỎI
    {xen:phrase loading}

Mạng ISDN .Integrated Services Digital Network

Thảo luận trong 'Mạng máy tính-Viễn thông' bắt đầu bởi thanhmai, 15 Tháng sáu 2009.

  1. thanhmai Member

    Số bài viết: 606
    Đã được thích: 5
    Điểm thành tích: 18
    Giới thiệu với pa con các dịch vụ mạng Wan . nếu thấy hay thank một cái nha
    I. Khái Niệm ISDN:

    Mạng số tích hợp dịch vụ (ISDN: Integrated Services Digital Networks) được ITU-T phát triển từ 1976. Đây là tập các giao thức nhằm kết hợp mạng điện thoại số và dịch vụ truyền dữ liệu. Nói một cách khác, mạng ISDN cho phép tất cả các thông tin thoại (phone), số liệu (data) và hình ảnh (video) có thể truyền qua một đường dây thuê bao (subscriber line) với tốc độ cao và chất lượng tốt. Hình dưới minh hoạ sự tích hợp dịch vụ trên.

    ISDN là một cố gắng nhằm chuẩn hóa các dịch vụ của thuê bao, cung cấp giao diện người dùng/mạng, và đơn giản hóa khả năng kết nối của các mạng thoại và dữ liệu.
    Mục tiêu của ISDN là nhằm tạo ra một mạng diện rộng có cung cấp khả năng kết nối điểm-điểm trong môi trường số. Điều này thực hiện được bằng cách tích hợp thành một tất cả các dịch vụ truyền riêng biệt mà không cần thêm kết nối hay đường dây thuê bao mới.
    1.ỨNG DỤNG CỦA ISDN

    Mạng số đa dịch vụ tích hợp sử dụng chính đôi dây cáp đồng của đường dây điện thoại truyền thống trước đây vẫn chỉ dùng kết nối một kênh thoại. ISDN có thể thực hiện nhiều kết nối trên đôi dây này tại cùng một thời điểm với tốc độ cao. Các ứng dụng bao gồm: Voice, Fax, Data, và email đồng thời; hội nghị truyền hình giá thấp; quảng bá từ xa và truyền audio chất lượng cao.

    Mạng ISDN đưa đến cho người dùng kênh tốc độ như thế nào?

    Có hai dạng kênh chính được hỗ trợ trong ISDN

    Kênh tốc độ cơ sở BRA (Basic Rate Access)

    Ðược cung cấp thông qua một kênh giao diện tốc độ cơ sở
    Kênh này có thể gọi là kênh giao diện S0
    Có 2 kênh người dùng có thể sử dụng đồng thời
    Tốc độ kết nối tối đa 144Kbps (2B + D)
    Tốc độ này được chọn do các công ty điện thoại lắp đặt

    Kênh tốc độ sơ cấp PRA (Primary Rate Access)
    Ðược cung cấp thông qua một kênh giao diện tốc độ sơ cấp
    Kênh này có thể gọi là kênh giao diện S2
    Có thể sử dụng đồng thời 30 kênh khác nhau (chuẩn Châu Âu) hoặc 23 kênh (chuẩn Bắc Mỹ, Nhật bản...)
    Tốc độ tối đa 2048Kbps (E1: 30B + D) với chuẩn Châu Âu và 1536Kbps với chuẩn Bắc Mỹ và Nhật bản.
    Kênh này thường được cài đặt cho các đường tốc độ cao đến thiết bị trước khách hàng.

    Thông thường tốc độ cơ sở sử dụng cho các trạm thông tin ở xa hoặc văn phòng nhỏ, kênh sơ cấp sử dụng cho các Server lớn đặt tại trung tâm phục vụ truy cập từ xa, fax Server hoặc PBX cỡ vừa hoặc văn phòng cỡ lớn. Hiện tại hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ Internet ISP sử dụng kênh PRI cung cấp kết nối tương tự và ISDN cho các thuê bao

    2.Các dịch vụ ISDN
    Mạng ISDN cung cấp 2 loại hình dịch vụ chính :
    Dịch vụ mạng


    Dịch vụ mạng thực hiện chuyển giao giữa người dùng và mạng
    Ví dụ: thiết lập cuộc gọi và kết thúc cuộc gọi
    Dịch vụ mạng định nghĩa cách mà người dùng và mạng tương tác qua lại nhằm mục đích quản lý các kết nối
    Người dùng có thể sử dụng các dịch vụ mạng để yêu cầu mạng thực hiện các chức năng như thiết lập và xoá cuộc gọi, chuyển giao cuộc gọi đến người dùng khác và một số các chức năng khác.
    Chức năng này được xem như báo hiệu
    Dịch vụ chuyển tải (Bearer)

    Dịch vụ này thực hiện chuyển dữ liệu giữa hai người dùng
    Ví dụ: thông tin thoại hoặc fax được mã hoá thành các dòng bit
    Dịch vụ chuyển tải thực hiện các chức năng cuộc gọi mà người dùng đang thực hiện
    Các dịch vụ bao gồm thoại, fax, kết nối modem và Internet.
    Nói rộng hơn có hai loại hình dịch vụ chuyển tải :
    § Dữ liệu có cấu trúc (Structured Data): thông tin truyền trên dịch vụ này được quản lý dễ dàng bởi mạng, tín hiệu thoại là một ví dụ của dạng này. Do mạng nhận biết được kết nối, do vậy nó có thể chuyển dữ liệu sang tín hiệu tương tự trong trường hợp cuộc gọi được kết nối đến một máy thoại tương tự

    § Dữ liệu không có cấu trúc (Unstructured Data): dạng của dữ liệu không được nhận biết qua mạng, nhưng được nhận biết qua hai người dùng tại các điểm đầu cuối của dịch vụ

    Như vậy

    + Dịch vụ chuyển tải cung cấp kết nối giữa các người dùng qua mạng
    + Dịch vụ mạng cung cấp điều khiển và báo hiệu giữa người dùng và mạng
    + Mạng ISDN cung cấp 2 kênh tốc độ chính: BRI và PRI
    + Kênh cơ sở BRI cung cấp 2 kênh người dùng
    + Kênh sơ cấp PRI cung cấp 30 kênh hoặc 23 kênh người dùng

    Kênh B và kênh D




    Phần này sẽ đề cập đến:



    Kênh B và D làm chức năng gì?
    Kênh B và D chia sẻ đường truyền như thế nào?
    So sánh về cấu trúc giữa kênh BRI và PRI
    Chúng mang khả năng gì và tập trung trên những kênh nào?
    Dung lượng băng thông cung cấp cho người dùng là bao nhiêu?
    Kênh B làm chức năng gì?

    Kênh B thực hiện các dịch vụ ISDN qua mạng và truyền tin tức (thoại và phi thoại) giữa các người dùng.
    Kênh B là kênh truyền độc lập cho các Bits và truyền tại tốc độ 64Kbps
    Kênh B không cần biết các thông tin dạng bit truyền qua nó. Nhiệm vụ của mạng là tiếp nhận các bits được cung cấp bởi một người dùng tại một đầu cuối của kênh B và gửi chúng đến người dùng bên kia kênh.
    Trong một giao diện, kênh B được đánh số. Trong giao diện cơ sở chúng được đánh số là 1 & 2; trong giao diện sơ cấp, chúng được đánh số từ 1 đến 30 (hoặc 1 đến 23). Khi hai người dùng kết nối, không có sự liên quan giữa các kênh tại các đầu cuối. Người dùng có thể kết nối kênh B số 17 với kênh B số 2. ISDN chịu trách nhiệm quản lý sự liên quan này.
    Lưu ý rằng kênh số 17 chỉ tồn tại với kênh PRI, trong khi kênh 2 có thể tồn tại trên cả kênh PRI và BRI. Mạng ISDN không hạn chế các kết nối các kênh B giữa 2 loại giao diện BRI & PRI.
    Kênh D làm chức năng gì?

    Kênh D thực hiện dịch vụ ISDN giữa người dùng và mạng. Nó giám sát sự liên quan giữa người dùng và mạng, bao gồm:

    Các yêu cầu và trả lời được sử dụng khi người dùng thiết lập hoặc nhận một cuộc gọi
    Thông báo tiến trình cuộc gọi
    Thông báo ngưòi dùng, nhóm cuộc gọi bị ngắt
    Thông báo lỗi khi không thiết lập được cuộc gọi
    Kênh D hoạt động tại tốc độ 16Kbps với kênh BRI và 64Kbps với kênh PRI.

    Đặc điểm của kênh B và D


    Một kênh ISDN có đầu cuối, kênh B định giới hạn tại một người dùng, như vậy một kênh B kết nối chỉ 2 đầu cuối, không thể vận hành với mô hình dạng Y- shaped, có thể mô tả kênh B là end to end

    Kênh D không là end - to - end:

    Lưu ý kênh D không qua mạng, mỗi một người dùng chỉ có một kênh D và nó không kết nối với kênh D của người dùng khác.

    Kênh B truyền trực tiếp qua mạng

    Kênh B & D trong BRI chia sẻ đường như thế nào:

    2 kênh B và một kênh D tạo lên một đường cơ sở BRI , sự kết hợp này sử dụng công nghệ ghép kênh phân chia theo thời gian TDM.

    Kênh B & D trong PRI chia sẻ đường như thế nào:

    Với giao diện kênh sơ cấp chuẩn Châu Âu 30 kênh B và một kênh D, 23 kênh B và một kênh D chuẩn Bắc Mỹ.
    Kênh B hoạt động ở tốc độ 64Kbps
    Kênh B hoạt động ở tốc độ 64Kbps trong giao diện kênh sơ cấp, đây là sự khác nhau giữa kênh BRI và PRI, trong kênh BRI kênh D chỉ có tốc độ là 16Kbps.
    Giao diện kênh sơ cấp sử dụng cân bằng thời gian truyền số liệu cho mỗi kênh B và cho kênh D tất cả chúng hoạt động ở cùng tốc độ.

    + Lưu ý: có một khe thời gian không mang chức năng kênh. Khe này dành riênh cho mạng mà nhà cung cấp sử dụng cho mục đích chẩn đoán. Kênh xuất hiện giữa kênh B số 15 và kênh B số 16.

    Kênh sơ cấp PRI 30B+D
    Fractional PRI
    Dịch vụ ISDN có khả năng cung cấp các giao diện trong đó chỉ sử dụng một số kênh. Tại một số nước, khi người dùng sử dụng giao diện sơ cấp, chỉ phải tính cước các kênh B sử dụng thực tế. Nếu người dùng không cần tất cả các kênh, họ có thể yêu cầu không kích hoạt một số kênh này, có nghĩa là tốc độ sơ cấp được phân đoạn (Fractional). Số kênh người dùng có thể yêu cầu phụ thuộc vào chính sách của nhà cung cấp dịch vụ.

    Ðiều gì sẽ xảy ra nếu người dùng cố gắng dùng hơn số kênh mà họ thuê bao? Với mạng ISDN lúc đó chính sách của mạng ISDN được thiết lập bởi nhà cung cấp dịch vụ sẽ can thiệp. Khi người dùng muốn đặt cuộc gọi thông qua mạng ISDN thì gửi yêu cầu trong kênh D đến mạng. Mạng sẽ đáp ứng yêu cầu này hoặc từ chối.

    Nếu sử dụng một kênh B, người dùng sẽ được đáp ứng, nếu yêu cầu tiếp cuộc gọi thứ hai trong khi cuộc gọi đầu vẫn hoạt động, mạng sẽ từ chối yêu cầu.

    II. Cấu hình kết nối mạng ISDN


    Năm 1980, ITU-T giới thiệu cấu hình thuê bao của mạng ISDN. Khuyến nghị của ITU-T bảo đảm một mạng ISDN sẽ được vận hành với quy mô toàn cầu qua việc sử dụng các giao diện và giao thức chuẩn hoá dựa trên lớp, quy định cho mạng kết nối hệ thống truyền thông mở OSI 7 lớp. Về cơ bản cấu trúc như hình sau.


    Trong sơ đồ trên , khối chức năng TE biểu thị thiết bị đầu cuối (terminal equipment) của thuê bao. TE có thể là mạng điện thoại, thiết bị multimedia, máy fax, máy vi tính PC v.v... Những tín hiệu này nối từ thuê bao đến nhà khai thác thông qua một đôi dây đồng kép.
    Để kết nối giữa mạng tương tự hiện có với tổng đài ISDN, người ta lắp một khối kết cuối mạng NT (Network Termination) tại đầu dây thuê bao và một khối kết cuối đường dây LT (Line Termination). Khối NT được phân thành khối nhỏ hơn NT1 và NT2. NT1 tương ứng với lớp 1 của Hệ thống liên kết truyền thông mở OSI. Nó bao hàm các phương tiện kết nối vật lý (điện hoặc từ). NT2 là chức năng phân cấp 2 và 3 trong OSI. Các chức năng của NT2 là kết nối với các tổng đài cơ quan PBX và mạng cục bộ LAN. Tuỳ theo các loại hình thuê bao đôi khi không cần đến khối NT2.
    Trong kết cấu thuê bao ISDN, các loại thuê bao kể trên là thuê bao TE1 và được kết nối với giao diện S. ITU-T còn phân ra TE2 loại thiết bị đầu cuối có ký hiệu loại X nằm ngoài các loại trên. TE2 được nối với mạng ISDN thông qua thiết bị thích ứng đầu cuối TA (Terminal Adaptor) trên hình 2, thiết bị TE2 qua điểm R và khối thích ứng TA nối tới giao diện S hoặc T.
    Khối kết cuối đường dây LT được lắp đặt ngay trong giá máy của tổng đài ISDN. Hoạt động của LT cùng với NT do các nhà sản xuất khác nhau tạo ra. Để thực hiện kết nối giữa các khối NT và LT yêu cầu chúng phải có phần mềm thích hợp.
    Việc tiêu chuẩn hoá các thiết bị thuê bao tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạng truyền thông. Các thiết bị thuê bao có giao diện tiêu chuẩn ISDN có thể nối tới tổng đài ISDN tại bất kỳ lúc nào và bất cứ đâu.


    Các giao diện ISDN
    Kết nối cơ bản giữa thiết bị đầu cuối TE với tổng đài ISDN có hai giao diện quan trọng: giao diện S và giao diện U. Trường hợp chức năng NT chia làm NT1 và NT2 thì giao diện S còn gọi là giao diện T.
    - Giao diện S: Giao diện này được dùng để cấp nguồn đồng thời tới khối TE. Giao diện S là giao diện 4 dây cho hoạt động song công của các kênh 64kbit/s.
    - Giao diện U: - giao diện này kết nối giữa khối kết cuối đường dây LT với khối kết cuối mạng NT qua các cặp dây đồng kép (truyền dẫn 4 dây). Mã đường dây truyền trên các cặp dây này là mã có tính kháng nhiễu cao, nâng được tỷ số tín hiệu/tạp âm cho phép chúng ta tăng cự ly truyền dẫn.
    Truy nhập của ISDN
    Mạng ISDN cung cấp cho thuê bao các loại dịch vụ khác nhau bằng sử dụng kết nối cơ bản hoặc kết nối ghép kênh sơ cấp.
    - Truy nhập tốc độ cơ bản: Một kết nối cơ bản, còn gọi là truy nhập tốc độ cơ bản BRA (Basic Rate Access), cung cấp 2 kênh B. Mỗi kênh có thể truyền số liệu ở tốc độ 64kbit/s. Hai kênh này có thể sử dụng hoàn toàn độc lập với nhau. Để hệ thống kết nối thuê bao hoạt động với mạng không bị lỗi, truy nhập tốc độ cơ bản BRA còn có kênh báo hiệu D với tốc độ 16kbit/s. Như vậy truy nhập tốc độ cơ bản BRA được sử dụng. 2B + D = 2 x 64 + 16 = 144kbit/s
    - Truy nhập tốc độ sơ cấp: Trường hợp các thuê bao cần truyền với tốc độ cao, các kênh cơ bản trên có thể được ghép lại bằng phương pháp ghép kênh theo thời gian TDM. Phương thức này gọi là truy nhập tốc độ sơ cấp PRA (Primary Rate Access).
    Theo tiêu chuẩn châu Âu, PRA có thể gồm 30 kênh B độc lập với nhau trên đường dây (line). Việc giám sát giữa các thiết bị đầu cuối TL và tổng đài thực hiện qua kênh báo hiệu riêng, kênh D. Do yêu cầu báo hiệu có dung lượng cao hơn nên kênh báo hiệu D có tốc độ 64kbit/s.
    Như vậy một PRA có thể gồm 30B+D. Đối với tiêu chuẩn Bắc Mỹ, một PRA gồm 23BD. Do đó tốc độ truyền dẫn của giao diện là 2048kbit/s (đối với tiêu chuẩn châu Âu) hoặc 1544kbit/s (với tiêu chuẩn Bắc Mỹ) thông qua việc cộng thêm một số bit khung.
    Truy nhập PRA được sử dụng như phương tiện truy nhập cho thiết bị kết cuối TA 2Mbit/s. Hình 3 là một thí dụ kết nối trạm gốc BTS của mạng thông tin di động GSM với tổng đài ISDN.

    Trong hình trên, những đôi dây đồng nối giữa khối NT và khối LE, hình thành giao diện U, có thể truyền đi xấp xỉ 2Mbit/s theo hai hướng.
    Bộ mô phỏng ISDN trang bị 2 port với hai giao diện S/T và U, nhưng trong một port chỉ có một loại giao diện hoạt động. Chú ý là linh kiện TE1 hoặc T/A được cắm vào giắc của giao diện S/T còn linh kiện NT được cắm vào giắc của giao diện U.
  2. system New Member

    Số bài viết: 61
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    thank cai coi!!1 du sao cung lo doc:snicker:

    đùa thôi vì đọc k hiểu gì hết nên...:no::music::007:
  3. thanhmai Member

    Số bài viết: 606
    Đã được thích: 5
    Điểm thành tích: 18
    Dành cho nhứng ai học điện tử viễn thông và kỹ thuật máy tính !!! đây là môn học rất khó
  4. eff3 New Member

    Số bài viết: 1
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Cám ơn bạn thanhmai với bài viết khá chi tiết.
    Tuy nhiên mình vẫn có một số thắc mắc, mong bạn có thể giải thích giúp mình:

    1) Theo như mình đọc, thì ở BRA người ta có thể đặt 8 thiết bị đầu cuối nhưng số lượng tối đa các thiết bị có thể làm việc song song với nhau là 2 có đúng ko? (do BRA chỉ có 2 kênh B)
    2) Có phải là ở BRA thì mỗi thiết bị được kết nối sẽ có 1 số gọi (call number) riêng ko?
    3) Bình thường trong BRA thì 2 cặp dây xoắn (mỗi cặp cho 1 chiều truyền thông tin), vậy ở trong trường hợp của PRA khi mà số lượng kênh B nhiều như thế thì số lượng cặp dây xoắn đôi sẽ nhiều hơn?
    4) Theo như mình nhớ khi trước đây ở nhà mình sử dụng ISDN thì khi máy tính vào internet thì lại không gọi điện thoại được (cái này ở VN chắc đâu cũng thế) ... mình ko hiểu tại sao lại như thế vì thực tế ISDN cho phép tối thiểu có 2 kênh B --> có thể dùng 1 kênh để gọi điện thoại và 1 kênh để vào internet song song. Có bạn nào có thể giải thích giúp mình được không? Ngoài ra nếu mình không nhầm thì cả 2 thiết bị ở đây (máy tính và máy điện thoại) đều sử dụng chung 1 số call number??? Cả 2 nhận xét này đều trái ngược với những điểm lý thuyết mình nêu ở trên...

Chia sẻ trang này