1. THÔNG BÁO TUYỂN ADMIN DIỄN ĐÀN 2013
    Tìm kiếm nhà trọ - Ở ghép
    THÔNG BÁO BÁN ÁO SPKT.NET CHO THÀNH VIÊN DIỄN ĐÀN


    HÃY TÌM KIẾM Ở ĐÂY TRƯỚC KHI ĐẶT CÂU HỎI
    {xen:phrase loading}

Mỗi ngày một nhân vật lịch sử...!

Thảo luận trong '09117' bắt đầu bởi shynec, 29 Tháng bảy 2010.

  1. shynec <marquee><b><i>Không còn nhỏ nhưng cũng chưa đủ lớ

    Số bài viết: 714
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 16
    Giới tính: Nam
    Nhằm nâng cao sự tìm tòi hiểu biết cũng như giúp Anh Chị Em củng cố, ôn lại mảng đề tài lịch sử...Ghi nhớ công ơn và thể hiện lòng biết ơn, tôn kính của chúng ta đối với nhưng Danh nhân, anh hùng...trong lịch sử Việt Nam ta ! Nay em lập topic này rất mong được sự ủng hộ...!
    Em xin 1 bài viết trước tiên.
    Chủ Tịch Hồ Chí Minh

    [IMG] Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890- 1969) Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng cao đẹp của một người cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, đã đấu tranh không mệt mỏi và hiến dâng cả đời mình vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vì độc lập, tự do của các dân tộc, vì hòa bình và công lý trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt đông cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và nhiều bí danh, bút danh khác) sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 ở Kim Liêm huyện Nam Đàn, tình Nghệ An, mất ngày 2 tháng 9 năm 1969 tại Hà Nội.
    Người sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước lớn lên ở một địa phương có truyền thống yêu nước anh dũng chống giặc ngoại xâm. Sống trong hoàn cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thời niên thiếu và thanh niên của Người đã chứng kiến nỗi khổ cực của đồng bào và những phong trào đấu tranh chống thực dân. Người sớm có chí đuổi thực dân, giành độc lập cho đất nước đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào
    Với tình cảm yêu nước thương dân vô hạn, năm 1911 Người đã rời Tổ quốc đi sang phương Tây để tìm con đường giải phóng dân tộc.
    Từ năm 1912 đến năm l917, Nguyễn Tất Thành đến nhiều nước ở Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, châu Phi, sống hòa mình với nhân dân lao động, Người thông cảm sâu sắc cuộc sống khổ cực của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ. Người sớm nhận thức được cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới. Người đã hoạt động tích cực nhằm đoàn kết nhân dân các dân tộc giành tự do, độc lập.
    Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Vesailles bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho nhân dân các nước thuộc địa.
    Dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, tháng 12 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và Người bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế III, Quốc tế Cộng sản và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước trở thành người cộng sản, Người khẳng định con đường cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới là con đường của chủ nghĩa Mác-Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.
    Năng 1921, cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp, Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa. Tháng 4 năm 1922, Hội ra báo “Người cùng khổ “ (Le Paria) nhằm đoàn kết, tổ chức và hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm l925.
    Đây là một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng. Tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, Người làm việc trong Quốc tế Cộng sản. Tháng 10 năm l923, tại Hội nghị Quốc tế nông dân lần thứ nhất Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân. Người là đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa được cử vào Đoàn Chủ tịch của Hội đồng. Người tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Đại hội Quốc tế Cộng sản Thanh niên lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ. Ngườil kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc .Nguyễn Ái Quốc là Ủy viên thường trực Bộ phương Đông, trực tiếp phụ trách Cục phương Nam của Quốc tế Cộng sản
    Tháng 11 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) chọn một số thanh niên Việt Nam yêu nước đang sống ở Quảng Châu, trực tiếp mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ Việt Nam Các bài giảng của Người được tập hợp in thành cuốn sách “Đườg Kách mệnh" - một văn kiện lý luận quan trọng đặt cơ sở tư tưởng cho dường lối cách mạng Việt Nam. Năm 1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ra báo “Thanh niên”, tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam, chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
    Tháng 5 năm 1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Mátxcơva (Liên Xô) ,sau đó đi Berlin (Đức), đi Bruxell (Bỉ) tham dự phiên họp mở rộng của Đại hội đồng Liên đoàn chống chiến tranh đế quốc, sau đó đi Ý và từ đây về Châu Á.
    Tử tháng 7 năm 1928 đến tháng 11 năm 1929, Người hoạt đông trong phong trào vận Đảng Việt kiều yêu nước ở Thái Lan, tiếp tục chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
    Mùa xuân năm 1930, Người chủ trì Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long gần Hương Cảng, thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam (Hội nghị của Đảng tháng 10 năm 1930 đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương), đội tiên phong của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc. Ngay sau khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cao trào cách mang 1930-1931, đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh, cuộc tổng diễn tập đầu tiên của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
    Tháng 6 năm 1931, Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Anh bắt giam tại Hong Kong. Đây là một thời kỳ sóng gió trong cuộc đời hoạt Đảng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc. Mùa xuân năm 1933, Người được trả tự do.
    Từ năm 1934 đến 1938, Người nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc thuộc địa tại Matxcova. Kiên trì con đường đã xác định cho cách mang Việt Nam, Người tiếp tục theo dõi chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước.
    Tháng 10 năm 1938, Người rời Liên Xô về Trung Quốc bắt liên lạc với tổ chức Đảng chuẩn bị về nước.
    Ngày 28 tháng 1 năm 1941, Người về nước sau hơn 30 năm xa Tổ quốc. Bao nhiêu năm thương nhớ đợi chờ khi qua biên giới, Người vô cùng xúc động.
    Tháng 5 năm 1941, Người triệu tập Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Đảng. quyết định đường lối cứu nước trong thời kỳ mới, thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh). Tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa cách mạng.
    Tháng 8 năm 1942, lấy tên là Hồ Chí Minh, Người đại diện cho Mặt trận Việt Minh và Phân hội Việt Nam, thuộc Hiệp hội quốc tế chống xâm lược sang Trung Quốc tìm sự liên minh quốc tế, cùng phối hợp hành động chống phát xít trên chiến trường Thái Bình Dương. Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam trong các nhà lao của tỉnh Qủang Tây. Trong thời gian 13 tháng bi tù, Người đã viết tập thơ “Ngục trung nhật ký" (Nhật ký trong tù) với 133 bài thơ chữ Hán. Tháng 9 năm 1943, Người được trả tự do.
    Tháng 9 năm 1944. Người trở về căn cứ Cao Bằng. Tháng 12 năm 1944, Người chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.
    Cuộc chiến tranh thế giới thứ II bước vào giai đoạn cuối với những thắng lợi của Liên Xô và các nước đồng minh. Tháng 5 năm 1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang). Tại đây theo đề nghị của Người, Hội Nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân Đã hop quyếtđịnh tổngkhởi nghĩa. Đại hội Quốc dân đã bầu ra Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
    Tháng 8 năm 1945, Người lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước Ngày 2 tháng 9 năm J 945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Người đọc “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.
    Ngay sau đó, thực dân Pháp gây chiến tranh, âm mưu xâm chiếm Việt Nam một lần nữa. Trước nạn ngoại xâm Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi cả nước đứng lên bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc với tinh thần: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Người đã khởi xướng phong trào thi đua yêu nước cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, từng bước giành thắng lợi.
    Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Người được bầu làm Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân Việt Nam chống thưc dân Pháp xâm lược đã giành thắng lợi to lớn, kết húc vẻ vang bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954), giải phóng hoàn toàn miền Bắc.
    Từ năm 1954, Người cùng Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
    Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III, họp vào tháng 9 năm 1960, Người khẳng định: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình, thống nhất nước nhà”. Tại Đại hội, Người được bầu lại làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng.
    Năm 1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Người động viên toàn thể nhân dân Việt Nam vượt qua khó khăn gian khổ, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Người nói: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do! Đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.
    Từ năm 1965 đến năm 1969, cùng với Trung ương Đảng, Người tiếp tục lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện sự nghiệp cách mạng trong điều kiện cả nước có chiến tranh, xây dựng và bảo vệ miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước.
    Ngày 2/9/1969, Người từ trần, hưởng thọ 79 tuổi.
    Trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho nhân dân Việt Nam bản Di chúc lịch sử. Người viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.
    Thực hiện Di chúc của Người, toàn dân Việt Nam đă đoàn kết một lòng đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ, buộc Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Pari ngày 27 tháng 1 năm 1973, chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam.
    Mùa xuân năm 1975, với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân Việt Nam đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thực hiện được mong ước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
    Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tu vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Người đã vân dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, sáng lập Đảng Mác- Lênin ở Việt Nam, sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, sáng lập Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Người luôn luôn kết hợp chặt chẽ cách mạng Việt Nam với cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Người là tấm gương đạo đức cao cả, cần, kiệm,liêm, chính, chí công. vô tư, vô cùng khiêm tốn, giản dị
    Năm 1987, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã công nhận Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất
    Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, hội nhập với thế glới, tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
    Bảo Tàng Hồ Chí Minh – Tháng 5 năm 2004



  2. shynec <marquee><b><i>Không còn nhỏ nhưng cũng chưa đủ lớ

    Số bài viết: 714
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 16
    Giới tính: Nam
    Tóm tắt tiểu sử-Đại tướng Võ Nguyên Giáp

    [IMG]


    1. Họ và tên: VÕ NGUYÊN GIÁP

    2. Năm sinh: Ngày 25/8/1911.

    3. Cấp bậc, chức vụ cao nhất: Đại tướng, Phó thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

    4. Quê quán: Làng An Xá, xã Lộc Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình

    5. Trú quán: Phố Hoàng Diệu, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

    6. Thành phần: Nhà nho yêu nước.

    7. Năm tham gia cách mạng: Năm 1925.

    8. Năm nhập ngũ: Năm 1944.


    9. Ngày vào Đảng – Chính thức: Năm 1940.

    10. Năm phong quân hàm cấp tướng: Đại tướng năm 1948.

    11. Quá trình tham gia cách mạng


    Đồng chí tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1925 khi mới 14 tuổi. Năm 1929, đồng chí tham gia cải tổ Tân Việt Cách mạng Đảng thành Đảng Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Năm 1930, đồng chí bị thực dân Pháp bắt giam vì tham gia các cuộc biểu tình chống Pháp. Không có chứng cớ, cuối cùng, chúng buộc tha đồng chí. Đồng chí tiếp tục hoạt động cách mạng trên mặt trận văn hoá, viết bài cho những tờ báo công khai như: Tin tức, Nhân dân, Tiếng nói của chúng ta, Lao động, làm biên tập viên cho các tờ báo của Đảng, dạy sử, địa cho Trường tư thục Thăng Long.


    Năm 1934, đồng chí kết duyên với Bà Nguyễn Thị Minh Thái, một Đảng viên Cộng sản, cộng sự đắc lực của đồng chí. Trong những năm tháng hoạt động bí mật, hai vợ chồng đồng chí sống ở số nhà 46 phố Nam Ngư, Hà Nội. Sau này, Bà Nguyễn Thị Minh Thái bị thực dân Pháp bắt, giết chết bà trong ngục nhà tù Hoả Lò. Từ năm 1936 đến 1939, đồng chí tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, biên tập viên các tờ báo của Đảng, Chủ tịch Uỷ ban báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương đại hội.


    Năm 1939, đồng chí cùng đồng chí Phạm Văn Đồng sang Trung Quốc gặp Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Được sự dìu dắt của Người, năm 1940, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 5 năm 1941, đồng chí trở về Cao Bằng, tham gia gây cơ sở cách mạng, lập ra Mặt trận Việt Minh, tham gia chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang ở căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng. Năm 1942, đồng chí phụ trách Ban Xung phong Nam tiến, dùng hoạt động tuyên truyền vũ trang mở đường liên lạc giữa miền núi với đồng bằng Bắc Bộ.


    Tháng 12/1944, đồng chí được Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân. Ngày 22/12/1944, tại một khu rừng ở châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã uỷ nhiệm cho đồng chí đứng ra tuyên bố thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. Đồng chí được giao nhiệm vụ trực tiếp lãnh đạo và chỉ huy.


    Tháng 3/1945, đồng chí đưa Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tiến xuống phía Nam, hội quân với đội Cứu quốc quân của đồng chí Chu Văn Tấn ở vùng chợ Chu, Thái Nguyên để thống nhất tổ chức thành Việt Nam giải phóng quân.


    Ngày 4/8/1945, đồng chí là Uỷ viên Uỷ ban Quân sự Cách mạng Bắc Kỳ, làm Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang thống nhất mang tên Việt Nam Giải phóng quân, tham gia Uỷ ban Chỉ huy Lâm thời khu Giải phóng Việt Bắc.


    Đồng chí được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II, cử vào Ban Chấp hành Trung ương và là Uỷ viên Thường vụ ban Chấp hành Trung ương, tham gia Uỷ Ban Khởi nghĩa toàn quốc, Uỷ ban Giải phóng Dân tộc Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ Lâm thời.


    Tháng 1/1946, đồng chí được cử là Chủ tịch quân sự, Uỷ viên hội đồng trong Chính phủ Liên hiệp, Phó trưởng đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đàm phán với Pháp tại Hội nghị ở Đà Lạt. Năm 1946, đồng chí kết hôn với Bà Đặng Thị Bích Hà (Con gái cố Giáo sư Đặng Thai Mai).


    Ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 110/SL, phong đồng chí làm Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 27/10/1948, Ban Thường vụ Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương ra Nghị quyết: “Lập chế độ chính trị uỷ viên, đại diện chỉ huy kiêm Chính uỷ. Tháng 6/1950, có Nghị quyết của Thường vụ Trung ương Đảng chấn chỉnh tổ chức thành Bộ Quốc phòng, đồng chí là Tổng tư lệnh, Tổng chính uỷ, Bí thư Quân uỷ Trung ương. Đồng chí đảm nhiệm các cương vị trên từ năm 1945 đến năm 1975.


    Về Đảng, đồng chí liên tục được bầu là Uỷ viên Trung ương Đảng các khoá II (năm 1951), đến khoá VI (Ngày 20/12/ 1986), làm Uỷ viên Bộ Chính trị các khoá từ khoá II đến khoá VI. Đồng chí là đại biểu Quốc hội từ khoá I (năm 1946) đến khoá VI (Năm 1986). Trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí trực tiếp chỉ huy các chiến dịch lớn: Biên Giới năm 1950, Điện Biên Phủ năm 1954.


    Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí cùng Bộ Chính Trị chỉ đạo các chiến dịch lớn ở miền Nam Việt Nam, trong đó có Chiến dịch Hồ Chí Minh, chỉ đạo cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam.


    Năm 1980, đồng chí thôi giữ chức Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, rút khỏi Bộ Chính trị năm 1982. Cuối năm 1983, đồng chí được cử làm Chủ tịch Uỷ ban sinh đẻ có kế hoạch. Cuối năm 1993, đồng chí được suy tôn làm Chủ tịch danh dự Hội Cựu chiến binh Việt Nam.


    Đồng chí là tác giả của nhiều tác phẩm và sách lý luận quân sự được xuất bản trong và ngoài nước. Từ năm 1948 đến nay, đồng chí có gần 70 đầu sách trong đó có sách văn học, có sách viết về đề tài khoa học kỹ thuật, kinh tế, có cuốn tái bản đến 5,6 lần. Ngoài ra còn có 21 tuyển tập gồm các lệnh động viên, báo cáo tổng kết, diễn văn, huấn thị, chỉ thị.



    12. Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:

    - Huân chương Sao vàng.


    - Hai Huân chương Hồ Chí Minh.

    - Hai Huân chương Quân công hạng nhất.

    - Huân chương Chiến thắng hạng nhất.
    - Huân chương Chiến công hạng nhất.

    - Huân chương Kháng chiến hạng nhất.

    - Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất.

    - Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.


    Đồng chí được Nhà nước Lào tặng Huân chương vàng Quốc gia Lào, Nhà nước Campuchia tặng Huân chương Ăng Co. Đồng chí được Đảng, Chính phủ các nước tặng nhiều Huân chương cao quý.




    [IMG]
  3. shynec <marquee><b><i>Không còn nhỏ nhưng cũng chưa đủ lớ

    Số bài viết: 714
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 16
    Giới tính: Nam
    Tiểu sử Trần Hưng Đạo







    Hưng Đạo đại vương - Trần Quốc Tuấn - Một anh hùng dân tộc




    [IMG]


    Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo) là anh hùng dân tộc, nhà văn hóa vĩ đại trong lịch sử Việt Nam. Làm tướng, ông biết dẹp bỏ "thù nhà" dốc lòng báo đền "nợ nước" góp công lớn ba lần đánh bại quân Nguyên. Ông còn là tác giả của hai bộ binh thư và đặc biệt bài "Hịch tướng sĩ" nổi tiếng còn lưu truyền đến ngày nay. Sau khi ông mất, vua phong ông tước Hưng Đạo đại vương, lập đền thờ ông ở Vạn Kiếp, Chí Linh (Hải Dương).
    Sinh năm 1228, Trần Quốc Tuấn ra đời khi họ Trần vừa thay thế nhà Lý làm vua trong một đất nước đói kém, loạn ly. Trần Thủ Độ, một tôn thất tài giỏi đã xếp đặt bày mưu giữ cho thế nước chông chênh thành bền vững. Bấy giờ Trần Cảnh còn nhỏ mới 11 tuổi, vợ là Lý Chiêu Hoàng, vị vua cuối cùng của dòng họ Lý. Vì nhường ngôi cho chồng nên trăm họ và tôn thất nhà Lý dị nghị nhà Trần cướp ngôi. Trần Thủ Độ rất lo lắng. Bấy giờ Trần Liễu, anh ruột vua Trần Cảnh lấy công chúa Thuận Thiên, chị gái Chiêu Hoàng đang có mang. Trần Thủ Độ ép Liễu nhường vợ cho Cảnh để chắc có một đứa con cho Cảnh. Liễu nổi loạn. Thủ Độ dẹp tan nhưng tha chết cho Liễu. Song điều này không dẹp nổi lòng thù hận của Liễu. Vì thế Liễu kén thầy giỏi dạy cho con trai mình thành bậc văn võ toàn tài, ký thác vào con mối thù sâu nặng. Người con trai ấy chính là Trần Quốc Tuấn.
    [IMG]

    Thuở nhỏ, có người đã phải khen Quốc Tuấn là bậc kỳ tài. Khi lớn lên, Trần Quốc Tuấn càng tỏ ra thông minh xuất chúng, thông kim bác cổ, văn võ song toàn. Trần Liễu thấy con như vậy mừng lắm, những mong Quốc Tuấn có thể rửa nhục cho mình. Song, cuộc đời Trần Quốc Tuấn trải qua một lần gia biến, ba lần quốc nạn và ông đã tỏ ra là một bậc hiền tài. Thù nhà ông không đặt lên trên quyền lợi dân nước, xã tắc. Ông đã biết dẹp thù riêng, vun trồng cho mối đoàn kết giữa tông tộc họ Trần khiến cho nó trở thành cội rễ của đại thắng. Bấy giờ quân Nguyên sang xâm chiếm Việt Nam. Trần Quốc Tuấn đã giao hảo hòa hiếu với Trần Quang Khải. Hai người là hai đầu mối của hai chi trong họ Trần, đồng thời một người là con Trần Liễu, một người là con Trần Cảnh, hai anh em đối đầu của thế hệ trước. Sự hòa hợp của hai người chính là sự thống nhất ý chí của toàn bộ vương triều Trần, đảm bảo đánh thắng quân Nguyên hung hãn.

    Chuyện kể rằng: thời ấy tại bến Đông, ông chủ động mời Thái sư Trần Quang Khải sang thuyền mình trò chuyện, chơi cờ và sai nấu nước thơm tự mình tắm rửa cho Quang Khải... Rồi một lần khác, ông đem việc xích mích trong dòng họ dò ý các con, Trần Quốc Tảng có ý khích ông cướp ngôi vua của chi thứ, ông nổi giận định rút gươm toan chém chết Quốc Tảng. Do các con và những người tâm phúc xúm vào van xin, ông bớt giận dừng gươm nhưng bảo rằng: Từ nay cho đến khi ta nhắm mắt, ta sẽ không nhìn mặt thằng nghịch tử, phản thầy này nữa! Trong chiến tranh, ông luôn hộ giá bên vua, tay chỉ cầm cây gậy bịt sắt. Thế mà vẫn có lời dị nghị, sợ ông sát vua. Ông bèn bỏ luôn phần gậy bịt sắt, chỉ chống gậy không khi gần cận nhà vua. Và sự nghi kỵ cũng chấm dứt. Giỏi tâm lý, chú ý từng việc nhỏ để tránh hiềm nghi, yên lòng quan để yên lòng dân, đoàn kết mọi người vì nghĩa lớn dân tộc. Một tấm lòng trung trinh son sắt vì vua, vì nước.

    Vua giao quyền tiết chế cho Trần Quốc Tuấn. Ông biết dùng người tài như các anh hùng Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng... đều từ cửa tướng của ông mà ra. Ông rất thương binh lính, và họ cũng rất tin yêu ông. Đội quân cha con ấy trở thành đội quân bách thắng.

    Trần Quốc Tuấn là một bậc tướng "cột đá chống trời". Ông đã soạn hai bộ binh thư: "Binh thư yếu lược", và "Vạn Kiếp tông bí truyền thư" để dạy bảo các tướng cách cầm quân đánh giặc. Trần Khánh Dư, một tướng giỏi cùng thời đã hết lời ca ngợi ông: "... Lấy ngũ hành cảm ứng với nhau, cân nhắc cửu cung, không lẫn âm dương...". Biết dĩ đoản binh chế trường trận, có nghĩa là lấy ngắn chống dài. Khi giặc lộ rõ ý định gây hấn, Trần Quốc Tuấn truyền lệnh cho các tướng, răn dạy chỉ bảo lẽ thắng bại tiến lui. Bản Hịch tướng sĩ viết bằng giọng văn thống thiết hùng hồn, mang tầm tư tưởng của một bậc "đại bút".

    Trần Quốc Tuấn là một bậc tướng tài có đủ tài đức. Là tướng nhân, ông thương dân, thương quân, chỉ cho quân dân con đường sáng. Là tướng nghĩa, ông coi việc phải hơn điều lợi. Là tướng chí, ông biết lẽ đời sẽ dẫn đến đâu. Là tướng dũng, ông sẵn sàng xông pha vào nơi nguy hiểm để đánh giặc, lập công, cho nên trận Bạch Đằng oanh liệt nghìn đời là đại công của ông. Là tướng tín, ông bày tỏ trước cho quân lính biết theo ông thì sẽ được gì, trái lời ông thì sẽ bị gì. Cho nên cả ba lần đánh giặc Nguyên Mông, Trần Quốc Tuấn đều lập công lớn.

    Hai tháng trước khi mất, vua Anh Tông đến thăm lúc ông đang ốm, có hỏi:

    Nếu chẳng may ông mất đi, giặc phương Bắc lại sang xâm lấn thì kế sách làm sao?

    Ông đã trăn trối những lời cuối cùng, thật thấm thía và sâu sắc cho mọi thời đại dựng nước và giữ nước:

    Thời bình phải khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách giữ nước.

    Mùa thu tháng Tám, ngày 20, năm Canh Tý, Hưng Long thứ 8 (1300) "Bình Bắc đại nguyên soái" Hưng Đạo đại vương qua đời. Theo lời dặn lại, thi hài ông được hỏa táng thu vào bình đồng và chôn trong vườn An Lạc, giữa cánh rừng An Sinh miền Đông Bắc, không xây lăng mộ, đất san phẳng, trồng cây như cũ...

    Khi ông mất (1300), vua phong ông tước Hưng Đạo đại vương. Triều đình lập đền thờ ông tại Vạn Kiếp, Chí Linh, ấp phong của ông thuở sinh thời. Công lao sự nghiệp của ông khó kể hết . Vua coi như bậc trượng phu, trăm họ kính trọng gọi ông là Hưng Đạo đại vương.

    Trần Hưng Đạo là một anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa Việt Nam.

    Nguồn: lichsuvn.info
  4. 091170c New Member

    Số bài viết: 154
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
  5. shynec <marquee><b><i>Không còn nhỏ nhưng cũng chưa đủ lớ

    Số bài viết: 714
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 16
    Giới tính: Nam
    Đại tướng Nguyễn Chí Thanh.
    [IMG] Bác Hồ và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tại Đại hội Đảng bộ quân đội 1960 - ảnh tư liệu Cuối năm 1963, tôi được vào chiến trường Nam Bộ bằng tàu Không số, đi trên "Đường Hồ Chí Minh trên biển Đông". Tháng 4.1964 vào tới Chiến khu Dương Minh Châu, tôi được giao làm Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Miền (B2). Đến tháng 9 năm đó, anh Nguyễn Chí Thanh được Bộ Chính trị cử vào trực tiếp cùng Trung ương Cục lãnh đạo kháng chiến của nhân dân và quân giải phóng miền Nam.
    Cùng vào với anh Thanh, còn có các cán bộ chỉ huy cao cấp của quân đội: Lê Trọng Tấn, Hoàng Cầm, Nguyễn Hòa, Trần Độ, Trần Văn Phác... Kể từ đây, tôi được trực tiếp sống, chiến đấu và công tác cùng anh Nguyễn Chí Thanh.
    Lúc này, đế quốc Mỹ đã đưa quân chiến đấu Mỹ và quân đội các nước chư hầu ồ ạt vào trực tiếp tham chiến, xâm lược miền Nam. Đây là thời điểm bước ngoặt của cuộc chiến tranh. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh và lãnh đạo Trung ương Cục đã nhận rõ: ở vào giai đoạn cuối của "Chiến tranh đặc biệt", nếu ta chỉ phát triển chiến tranh du kích, chỉ đánh địch ở quy mô nhỏ thì không thể giành thắng lợi quyết định được. Bởi vậy, cùng với việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, xây dựng lực lượng cách mạng của quần chúng, chúng ta phải coi trọng xây dựng các quả đấm chủ lực, và đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã cùng với Bộ chỉ huy Miền chỉ đạo mở các chiến dịch Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài và hàng loạt trận tiến công đánh bại từng chiến đoàn ngụy, cùng với việc phá rã hàng ngàn "ấp chiến lược", làm phá sản hoàn toàn chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ - ngụy.
    [IMG]
    Quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng lớn mạnh - Ảnh: Tư liệu
    Quân đội Mỹ ồ ạt vào xâm lược miền Nam, cùng lúc đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh leo thang, dùng không quân và hải quân đánh phá ác liệt miền Bắc Việt Nam. Hành động phiêu lưu và dã man này khiến nhân loại trên toàn thế giới sửng sốt và lo ngại cho nhân dân Việt Nam. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người phát hiện sớm việc chuyển chiến lược của Mỹ. Phát kiến đó đã được Bộ Chính trị chấp nhận và đề ra quyết sách mới. Lúc đó, anh Thanh đã phân tích: Mỹ vào miền Nam trong thế thua, thế bị động về chiến lược; Mỹ có cả một kho vũ khí khổng lồ nhưng lại vấp phải một núi mâu thuẫn; Mỹ là tỉ phú về đôla, nhưng quân và dân ta lại là tỉ phú về chủ nghĩa anh hùng cách mạng; ta có đường lối chiến tranh cách mạng, có chiến thuật đúng, ta sẽ bắt quân Mỹ phải đánh theo cách đánh của ta, nên ta nhất định thắng.
    Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Chí Thanh cùng Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền chỉ đạo và tổ chức quân và dân miền Nam phát huy tư tưởng chiến lược tiến công trong tình hình nhiệm vụ mới, đánh thắng quân Mỹ ngay từ những trận đầu. Các trận thắng: Núi Thành, Vạn Tường, Bàu Bàng, Nhà đỏ - Bông Trang, Plây-me và thung lũng Ia-đrăng, cuộc hành quân At-ten-bơ-rô và nhất là đánh bại cuộc hành quân tổng lực để "tìm diệt" mang tên Gian-xơn-xi-ti đã làm nức lòng nhân dân cả nước; đã trực tiếp xây dựng và củng cố niềm tin và quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ của toàn dân tộc. Và, từ thực tế chiến đấu, sự sáng tạo của các đơn vị, các địa phương, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã tổng kết thành phương châm chỉ đạo tác chiến, đồng thời cũng là khẩu hiệu hành động cách mạng nổi tiếng, nhanh chóng đi vào lòng người, lan tỏa thành cao trào cách mạng trên khắp chiến trường như "Nắm thắt lưng địch mà đánh", "Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt", lập các "Vành đai diệt Mỹ", thi đua phấn đấu trở thành "Dũng sĩ diệt Mỹ", "Dũng sĩ diệt xe tăng"... Tựu trung nhất đó là tư tưởng chỉ đạo "ở gần và đánh gần". Thực hiện tư tưởng này, chúng ta đã thật sự chống được ý đồ "phân tuyến" của Mỹ - ngụy, đã hạn chế đến mức tối đa (có trận đã vô hiệu hóa) hỏa lực phi pháo của địch. Ta thắng quân đội Mỹ, và sau này thắng quân ngụy Sài Gòn ở giai đoạn "Việt Nam hóa chiến tranh" cũng từ cái tư tưởng "ở gần và đánh gần" này.
    Luôn sâu sát thực tế, nắm bắt nhanh nhạy mọi vấn đề, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã phân tích và khái quát rất sâu sắc cục diện cuộc chiến, nhất là sau chiến thắng lớn của ta đánh bại cuộc hành quân Gian-xơn-xi-ti của Mỹ ở miền Đông Nam Bộ. Bài viết Năm bài học phản công chiến lược mùa khô mang bút danh Trường Sơn của đồng chí đã ngay lập tức trở thành tác phẩm có giá trị. Nó là vũ khí tư tưởng cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân quyết đánh và quyết thắng quân Mỹ xâm lược. Nó gây ấn tượng mạnh mẽ và niềm tin cho bè bạn năm châu. Nó làm cho quân thù sửng sốt và lúng túng hoang mang. Và nó đã góp phần cùng Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương hạ quyết tâm chiến lược chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công Mậu Thân - 1968 để thực hiện tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Hồ Chủ tịch "Đánh cho Mỹ cút" một cách tin cậy.
    Suy cho cùng, tư tưởng "ở gần, đánh gần" vừa là tư tưởng chiến thuật lại vừa là tư tưởng chiến lược. Đây là điểm thứ nhất nổi trội trong tư duy của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Điểm nổi trội thứ hai là chính anh đã đề ra biện pháp có hiệu quả để mở mặt trận Tây Nguyên (kể cả việc đề xuất làm sao có lương thực, một yếu tố vô cùng quan trọng, tiên quyết cho việc thực hiện chủ trương lớn này; kể cả việc anh đề xuất công tác cán bộ trước khi triển khai thực hiện chủ trương mở mặt trận Tây Nguyên). Tôi nhớ, suốt thời chống Pháp và những năm đầu chống Mỹ, rừng núi Tây Nguyên còn heo hút lắm, lực lượng của ta ở đây còn mỏng manh lắm. Cán bộ vô Nam hay ra Bắc đều phải hoặc là đi lận theo ven biển, hoặc là leo đèo lội suối dọc dãy núi Trường Sơn; đạn và gạo chỉ có thể gùi trên vai thì cố gắng lắm cũng chỉ đủ ăn để đánh du kích. Thực tế cuộc chiến tranh chống Mỹ đã khẳng định một hiện thực mang tính quy luật và chân lý là: Chúng ta có mở được mặt trận Tây Nguyên thì mới mở được tuyến đường vận tải chiến lược bằng cơ giới, mới đưa được lực lượng lớn người và của vào miền Nam để thực hiện "Cả nước đánh giặc Mỹ, giải phóng miền Nam". Mặt trận Tây Nguyên mở được cũng đồng thời thu hút được lực lượng địch để tạo điều kiện cho chiến trường Nam Bộ, một chiến trường "trọng điểm của trọng điểm" phát triển. Thực tế đã chứng minh tư tưởng chỉ đạo này là rất đúng đắn và sắc sảo.
    Mùa hè năm 1967, khi ra Hà Nội báo cáo Bộ Chính trị tình hình chiến trường và cùng với Bộ Chính trị, với Hồ Chủ tịch thiết kế và hoạch định cuộc Tổng tiến công Mậu Thân sắp tới, anh Nguyễn Chí Thanh đã đột ngột từ trần. Đây là một đau thương vô hạn, một tổn thất vô cùng lớn của cách mạng Việt Nam, của chiến sĩ và đồng bào cả nước. Đối với Trung ương Cục, Bộ chỉ huy Miền và Quân giải phóng miền Nam thì đây là một tổn thất không gì bù đắp nổi. Anh đột ngột ra đi, nhưng phẩm chất cách mạng, tài năng thao lược và đạo đức lối sống của anh mãi mãi là tấm gương cao cả, sáng ngời, là nguồn cổ vũ lớn lao đối với tất cả chúng ta.
    Tôi được biết, đồng chí Nguyễn Chí Thanh tham gia cách mạng từ năm 1934, vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1937. Từ 1937-1938, đồng chí làm Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên. Hội nghị toàn quốc lần thứ 8 của Đảng ở Tân Trào, tháng 8.1945, đã cử đồng chí là Ủy viên Trung ương chính thức và Trung ương chỉ định đồng chí làm Bí thư Xứ ủy Trung kỳ. Đồng chí đã bị đế quốc Pháp bắt ba lần, giam ở các nhà lao Huế, Lao Bảo, Buôn Ma Thuột. Bị giam cầm, tra tấn nhưng đồng chí luôn giữ vững khí tiết người cộng sản, tổ chức và lãnh đạo cuộc đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù đế quốc và tìm cách vượt ngục thắng lợi lại tiếp tục hoạt động, khơi dậy phong trào cách mạng. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh là người cộng sản kiên định, trung thành, gian khổ không sờn lòng, khó khăn không lùi bước. Đồng chí là người rất giỏi về tổ chức và vận động quần chúng thực hiện các chủ trương của Đảng. Nhận rõ và tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, đồng chí phát huy được ý chí cách mạng, tinh thần sáng tạo của quần chúng để tiến hành chiến tranh cách mạng, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân, phát triển kinh tế và văn hóa.
    Ngày đầu kháng chiến, dải đất hẹp miền Trung nhanh chóng bị thực dân Pháp chiếm đóng. Quân và dân ta thiếu thốn mọi đường: thiếu vũ khí, lương thực, thiếu căn cứ địa an toàn trong khi các đơn vị vũ trang còn non trẻ, nhiều bề nguy khốn. Lúc đó, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đưa ra nhận định mới: Mất đất nhưng chưa mất nước; kiên quyết bám dân, xây dựng cơ sở, phát triển chiến tranh du kích trong vùng địch kiểm soát sẽ xoay chuyển được tình thế. Bình - Trị - Thiên trở thành một mặt trận sôi động và cực kỳ anh dũng, đã góp phần chặn đứng âm mưu chia cắt chiến lược và mở rộng chiến tranh ra Thanh-Nghệ-Tĩnh của thực dân Pháp. Thời đó, đồng bào và đồng chí ở vùng này đã nói: "Anh Thanh là linh hồn của cuộc chiến đấu của Bình-Trị-Thiên khói lửa!".
    Năm 1950, đồng chí được Đảng điều vào quân đội và được giao nhiệm vụ làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và Phó bí thư Quân ủy. Ngay lập tức và thường xuyên liên tục, đồng chí Nguyễn Chí Thanh giáo dục cho cán bộ chiến sĩ ta thấm nhuần chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Quân đội ta là quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ. Đồng chí đã tổ chức thực hiện sự lãnh đạo có hiệu lực của Đảng đối với quân đội, thực hiện đường lối quân sự của Đảng, tạo ra một bước phát triển mới về sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến, liên tục mở các chiến dịch lớn, từ chiến dịch Biên Giới 1950 đến chiến dịch Điện Biên Phủ. Chấp hành chỉ thị của Hồ Chủ tịch và Bộ Chính trị, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã tập trung vào tăng cường bản chất cách mạng của quân đội nhân dân. Tập trung xây dựng chế độ lãnh đạo tập thể của Đảng trong các cấp, từ Tổng quân ủy đến chi bộ đại đội, làm cho công tác tư tưởng vượt lên trên phạm vi của công tác động viên và tác động tâm lý thông thường của con người theo bản năng, phát triển thành công tác giáo dục chủ nghĩa Mác Lê-nin, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, mục tiêu chiến đấu của quân đội. Với việc thiết lập và xây dựng hệ thống tổ chức công tác Đảng - công tác chính trị trong quân đội, đồng chí đã làm rõ các mối quan hệ giữa quân đội với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân, với bầu bạn quốc tế, trong đó mối liên hệ giữa quân đội với Đảng là mối liên hệ bản chất chi phối các mối quan hệ khác. Chăm lo giáo dục chính trị, tư tưởng quân sự của Đảng thể hiện trong chiến lược, chiến dịch và chiến thuật; trong giải quyết mối quan hệ giữa chính trị và quân sự, giữa tiền tuyến và hậu phương, giữa con người và vũ khí, giữa lãnh đạo và chỉ huy, giữa đạo đức và tài năng của cán bộ... đã tạo ra bước ngoặt về xây dựng chính trị làm cơ sở nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội nhân dân.
    Với trọng trách là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã chỉ đạo sát sao và trực tiếp chủ trì việc tổng kết công tác Đảng - công tác chính trị, xác định rõ vị trí, chức năng, nguyên tắc tiến hành công tác chính trị; phê phán quan điểm hạ thấp và thu hẹp chức năng công tác này. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh và người kế nhiệm là đồng chí Song Hào (sau này là Lê Quang Đạo) đã góp phần quan trọng cùng với Quân ủy Trung ương xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng trong quân đội ngày càng trưởng thành, làm nòng cốt trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, đứng vững trước mọi thử thách chính trị phức tạp. Thường xuyên chăm lo vun đắp phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" - "Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng" là bản chất và truyền thống tốt đẹp của quân đội ta do Đảng và Hồ Chủ tịch dày công giáo dục, rèn luyện. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người không ngừng chăm lo tăng cường bản chất cách mạng của quân đội nhân dân và chính đồng chí là một vị tướng tiêu biểu cho bản chất và truyền thống tốt đẹp của quân đội ta.
    Giai đoạn bước vào "Kế hoạch 5 năm" xây dựng CNXH ở miền Bắc, được Đảng phân công phụ trách mặt trận nông nghiệp, đồng chí đã xắn quần lội ruộng xem xét việc canh tác, khảo sát những khó khăn, tìm hiểu những nơi sản xuất khá, lắng nghe ý kiến các nhà khoa học, xác định phương hướng phát triển sản xuất, phá "xiềng ba sào" cùng với việc thâm canh tăng năng suất, phát động phong trào thi đua với Đại Phong... tuy chỉ mới một thời gian ngắn nhưng đồng chí đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý và những ấn tượng tốt đẹp cho cán bộ và đồng bào trên mặt trận kinh tế hàng đầu này.
    Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ sức mạnh của cách mạng là sức mạnh của toàn dân, trong đó công - nông là lực lượng cơ bản. Thấm nhuần tư tưởng đó, đồng chí Nguyễn Chí Thanh chăm lo tăng cường đoàn kết dân tộc. Là người hoạt động cách mạng khắp cả Bắc - Trung - Nam, đồng chí càng chăm lo xây dựng khối đoàn kết Bắc - Nam, đoàn kết quân dân, củng cố liên minh công - nông, mạnh dạn bồi dưỡng và đề bạt cán bộ xuất thân công nông và các dân tộc ít người, các địa phương, đồng thời coi trọng trí thức cách mạng. Sống ở đâu đồng chí cũng là hạt nhân, là trung tâm đoàn kết.
    Thực hiện lời dạy của Hồ Chủ tịch "Đạo đức là gốc; kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân", đồng chí Nguyễn Chí Thanh là người đầu tiên "nổ súng" và kiên trì đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong quân đội. Lời nói của đồng chí luôn có sức thuyết phục vì bản thân đồng chí sống trong sáng, giản dị, khiêm tốn, đoàn kết chân thành. Phê bình và tự phê bình thỏa đáng nhưng nghiêm túc, không "bé xé to", không "dĩ hòa vi quý". Đồng chí là một mẫu mực về: lời nói đi đôi với việc làm, lý luận liên hệ với thực tiễn, đạo đức đi đôi với tài năng, chính trị và quân sự song toàn. Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Đại tướng Nguyễn Chí Thanh kể từ buổi ban đầu đến khi ở những cương vị lãnh đạo cao nhất, lúc nào đồng chí cũng xông xáo thâm nhập vào cuộc sống của đồng bào và chiến sĩ, lăn lộn với phong trào, tìm ra quy luật phát triển tạo ra bước ngoặt mới cho cách mạng, tự tôi rèn mình trong đấu tranh cách mạng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã trở thành nhà chính trị - quân sự lỗi lạc của Đảng, quân đội và dân tộc ta. Như cán bộ và bà con trên mặt trận nông nghiệp gọi anh là "Đại tướng Nhân dân". Anh Tố Hữu viết: "Sáng trong như ngọc một con người". Còn đồng chí Viện trưởng Viện nghiên cứu Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng đã viết rằng: "Sau Bác Hồ vĩ đại, một trong những người cộng sản lãnh đạo có đức tài, có tâm huyết, khí phách, có sức hấp dẫn, lôi cuốn mạnh mẽ với quần chúng, đó là đồng chí Nguyễn Chí Thanh!".
    Cuộc đời hoạt động cách mạng, sống và làm việc theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, học và thực hành được nhiều lời dạy của Bác, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là hình ảnh tiêu biểu của "Anh bộ đội Cụ Hồ" với đầy đủ hình tượng cao đẹp, tầm vóc và ý nghĩa sâu xa của danh hiệu cao quý đó. Anh là một trong những cán bộ lãnh đạo lỗi lạc của Cách mạng Việt Nam, của Đảng ta, Nhà nước ta, của Quân đội ta; Anh là người con ưu tú của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh quang vinh!
    Hà Nội, tháng 12/2006,
    Đại tướng Lê Đức Anh (Nguyên Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam)
    Việt Báo (Theo_Thanh_Nien)

  6. thuongdt New Member

    Số bài viết: 791
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Quảng Ngãi quê mình tự hào Bác Đồng lắm, đăng lên thể hiện lòng thương nhớ

    PHẠM VĂN ĐỒNG
    [IMG]

    Phạm Văn Đồng sinh ra ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.

    Ông tham gia phong trào bãi khóa chống Pháp của học sinh sinh viên năm 1925, khi Phan Châu Trinh mất. Năm 1926, ông sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện cách mạng do Hồ Chí Minh tổ chức và gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Đến năm 1929, ông được cử vào Kỳ bộ Nam Kỳ, rồi vào Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và tham gia đại hội của tổ chức này họp ở Hồng Kông. Tháng 7 năm 1929, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù, đày đi Côn Đảo.

    Năm 1936, ông ra tù, hoạt động ở Hà Nội. Năm 1940, ông bí mật sang Trung Quốc cùng với Võ Nguyên Giáp, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và được Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ về nước xây dựng căn cứ địa ở biên giới Việt–Trung.

    Năm 1945, tại Đại hội Quốc dân Tân trào, ông được bầu vào Ủy ban Thường trực gồm 5 người thuộc Ủy ban Dân tộc giải phóng, chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám.

    Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập, ông được giữ chức Bộ trưởng Tài chính, Phó Trưởng ban Thường vụ Quốc hội (khóa I).

    Tháng 6 năm 1946, ông là Trưởng phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Fontainebleau (Pháp) thay cho Nguyễn Tường Tam không nhận nhiệm vụ, nhằm tìm một giải pháp độc lập cho Đông Dương. Tuy nhiên, hội nghị này thất bại bởi sự ngoan cố của thực dân Pháp không chịu trao trả độc lập cho Đông Dương.

    Chiến tranh Đông Dương bùng nổ, ông được cử làm Đặc phái viên của Trung ương Đảng và Chính phủ tại Nam Trung Bộ. Năm 1947 ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ( uỷ viên chính thức từ năm 1949). Từ tháng 7 năm 1949, ông được cử làm Phó Thủ tướng duy nhất.

    Tại Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương/Đảng Lao động Việt Nam lần thứ hai năm 1951, ông trở thành Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng.

    Năm 1954, ông là Trưởng phái đoàn Chính phủ dự Hội nghị Genève về Đông Dương. Tháng 9 năm 1954, ông trở thành Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ tháng 9 năm 1955, ông là Thủ tướng Chính phủ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và từ năm 1976 là Thủ tướng của nước Việt Nam thống nhất, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng. Từ năm 1981 đến 1987, ông là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cho đến khi về hưu năm 1987. Ông cũng liên tục là đại biểu Quốc hội từ năm 1946 đến năm 1987.

    Ông là Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 12 năm 1986 đến 1997. Ông cùng Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Thủ tướng Đỗ Mười đã tham gia cuộc gặp không chính thức với lãnh đạo Trung Quốc tại Thành Đô tháng 9 năm 1990 nhằm bình thường hóa mối quan hệ giữa hai nước sau hơn 10 năm căng thẳng và xung đột.

    Ngày 21 tháng 8 năm 1998, thủ tướng Phan Văn Khải ký quyết định số 746/QĐ - TTg bổ nhiệm ông làm chủ tịch danh dự Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam

    Ông đã được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng của Việt Nam và nhiều huân chương khác của Liên Xô, Lào, Campuchia, Cuba, Bulgaria, Ba Lan và Mông Cổ.

    Về cuối đời, dây thần kinh đáy mắt của ông đã bị teo nên mắt ông mờ dần và ông thường xuyên phải đeo kính đen.

    Ông mất tại Hà Nội ngày 29 tháng 4 năm 2000.
    [IMG]
    Khu tưởng niệm Bác PVĐ tại Mộ Đức, Quảng Ngãi
  7. linhvienthong07 Member

    Số bài viết: 83
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 6
    Phạm Hùng



    [IMG]




    Ông tên thật là Phạm Văn Thiện, sinh tại làng Long Hồ, huyện Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long; nay là xã Long Phước, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

    Năm 16 tuổi, ông tham gia cách mạng, hoạt động trong phong trào thanh niên, học sinh, tham gia tổ chức Nam Kỳ học sinh liên hiệp hội và Thanh niên cộng sản đoàn. Năm 1930, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
    Năm 1930, ông bị thực dân Pháp bắt và kết án tử hình. Song, do sự phản đối của dư luận trong nước cũng như ở Pháp, Chính phủ Pháp đã giảm án xuống khổ sai chung thân và đưa ông ra Côn Đảo giam giữ.

    Sau 14 năm trong tù, năm 1945 ông được chính quyền cách mạng đưa tàu ra đón về và giữ chức Bí thư Xứ ủy lâm thời Nam Bộ.
    Sau khi Chiến tranh Đông Dương bùng nổ, ông được phân công nhiệm vụ xây dựng lực lượng công an Nam Bộ.
    Tại Đại hội lần thứ hai của Đảng Cộng sản Việt Nam họp năm 1951, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và công tác ở Trung ương Cục miền Nam và Ủy ban Kháng chiến hành chính miền Đông Nam Bộ.

    Sau Hiệp định Genève, năm 1954 ông được cử làm Trưởng đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ban Liên hiệp đình chiến tại Nam Bộ và năm sau làm Trưởng phái đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam bên cạnh Ủy ban quốc tế tại Sài Gòn, và mang hàm Đại tá.

    Năm 1956 ông vào Bộ Chính trị. Ông cũng là Bí thư Trung ương Đảng trong các năm 1958-1960.

    Từ năm 1955 đến năm 1958 ông được cử làm Bộ trưởng Phủ Thủ tướng. Năm 1958, ông được cử làm Phó Thủ tướng và là một trong 4 Phó thủ tướng lúc bấy giờ.

    Sau đó, ông lại trở về Nam giữ chức vụ Bí thư Trung ương Cục miền Nam (1967-1975) và là Chính ủy Các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông làm Chính ủy Bộ chỉ huy chiến dịch.
    Sau khi Việt Nam thống nhất năm 1976, ông được giữ chức vụ Phó Thủ tướng, từ năm 1981Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) thay cho Trần Quốc Hoàn từ 1981 đến 1987.

    Từ tháng 6 năm 1987, được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và giữ chức vụ này cho đến khi mất.
    Ông cũng là đại biểu Quốc hội liên tục từ khóa II đến khóa VII (1960-1988).
    Ông mất đột ngột tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 1988


    Khu tưởng niệm Phạm Hùng ở Vĩnh Long


    Khu tưởng niệm cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng cách thành phố Vĩnh Long khoảng 4 km, gần cầu Ông Me lớn và chỉ cách bệnh viện Đa khoa Vĩnh Long khoảng 800 m. Khu tưởng niệm rộng 3,2 ha gồm: nhà lễ tân, nhà tưởng niệm, nhà trưng bày. Ngoài ra, còn có ba hạng mục ngoài trời được phục chế theo tỷ lệ 1/1, gồm: phòng biệt giam ông tại Côn Đảo, ngôi nhà làm việc của ông tại căn cứ Trung ương cục miền Nam (Tây Ninh) và căn phòng làm việc của ông tại số 72 Phan Đình Phùng, Hà Nội. Hàng ngày, khu tưởng niệm đón khá nhiều khách đến viếng. Trong khu tưởng niệm có đặt bức tượng bán thân của ông trong điện thờ. Hai bên là hai bức phù điêu ghi lại lời phát biểu của ông.
    Khu tưởng niệm Phạm Hùng do Kiến trúc sư Nguyễn Phương Nam thiết kế. Ông thiết kế công trình này khi còn công tác tại Viện Thiết kế Bộ Quốc phòng-Chi nhánh phía Nam.


    [IMG][IMG][IMG][IMG]
  8. linhvienthong07 Member

    Số bài viết: 83
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 6
    Đại tướng Văn Tiến Dũng

    [IMG]


    Đại tướng Văn Tiến Dũng (2/5/1917 – 2002), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, nguyên Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1954 – 1978), nguyên Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông là vị tướng chiến lược số hai của Việt Nam, được giới quân sự Thế giới đánh giá cao.

    Huân chương Sao vàng (1995), Huân chương Hồ Chí Minh (1979), Huân chương Quân công hạng Nhất – Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất – Nhì – Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng. Ngoài ra ông còn được tặng thưởng Huy hiệu Hồ Chí Minh (1967), Huân chương Tự do hạng Nhất của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Huân chương Ăng-co của Nhà nước Căm-pu-chia.


    ""Đồng chí Văn Tiến Dũng là một trong những tướng lĩnh tài năng xuất sắc của quân đội ta, là người học trò ưu tú của Chủ tịch Hồ Chí Minh". (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

    Ông được phong Thiếu tướng ngay trong đợt phong Quân hàm đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (1948), Thượng tướng 1959 – là Thượng tướng thứ hai của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đại tướng năm 1974.

    Đại tướng Văn Tiến Dũng (Lê Hoài) quê tại xã Cổ Nhuế (xưa gọi là Kẻ Noi), huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Ông sinh năm 1917, là năm của Cách mạng tháng Mười Nga.


    Nhà nghèo, không ruộng đất, mẹ mất sớm, ông theo cha ra Hà Nội sinh sống. Tại Hà Nội, cha ông làm bảo vệ tại nhà thương Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Việt – Đức).


    Đến tuổi đi học, ông trở lại quê theo học tại Đông Ngạc, cách nhà 3 cây số. Sinh trưởng trong một gia đình nghèo khó cho nên ông rất cố gắng học hành.


    Khi 15 tuổi, cha đột ngột qua đời, ông đành phải bỏ học, ở nhà trợ giúp cho anh làm nghề thợ may. Dẫu không đến lớp, nhưng Văn Tiến Dũng vẫn tranh thủ lúc rảnh rỗi, mua sách về tự học thêm các môn Lịch sử, Pháp văn, Văn học...


    Năm 1935, nhằm bớt gánh nặng cho anh chị, 17 tuổi, Văn Tiến Dũng xin anh cho ra Hà Nội làm công cho các xưởng dệt Thanh Văn (Hàng Đào), sau chuyển sang xưởng Đức Xương Long, Cự Chung (Hàng Bông). Hàng ngày ông phải làm việc 10 giờ bất kể Chủ nhật, có hôm bị chủ bắt làm tới 12 giờ. Cũng chính trong những ngày tháng gian lao, cực nhọc này, Văn Tiến Dũng được giác ngộ và bước chân vào cuộc đời cách mạng, nhanh chóng trở thành một chiến sĩ xuất sắc.


    Tháng 11/1937, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương. Cuối năm 1938, ông được cử làm Bí thư chi bộ ngành thợ dệt Hà Nội. Năm 1939, ông được cử làm Thư ký Ban thường trực Liên đoàn lao động Hà Nội và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội.


    Năm 1936, ông tham gia phong trào đấu tranh công khai của công nhân Hà Nội. Tháng 12/1936, ông tham gia tổ chức cuộc bãi công đầu tiên của công nhân xưởng dệt Hà Nội.


    Tháng 7/1939, ông bị Thực dân Pháp bắt, nhưng do không có bằng chứng nên chúng buộc phải thả ra sau 3 ngày giam giữ. Hai tháng sau, ông lại bị Thực dân Pháp bắt giam, bị kết án 2 năm tù về tội tàng trữ tài liệu, sách báo, tuyên truyền các khẩu hiệu của Đệ tam Quốc tế và gây rối trị an.


    Tháng 11/1939, ông cùng một số chiến sĩ cách mạng bị Pháp đày đi nhà tù Sơn La. Vượt qua mọi gian nguy, hà khắc của nhà tù thực dân, hai năm sau, trên đường bị địch áp giải từ Sơn La về Hà Nội để đưa vào trại tập trung, ông đã nhanh trí trốn thoát.


    Ngay sau khi thoát nhà tù Thực dân Pháp, ông tìm mọi cách bắt liên lạc với tổ chức mà đại diện là “Anh to đầu” – người thợ in Nguyễn Văn Đáng, tức Trần Đăng Ninh (sau này là Tổng cục trưởng Tổng cục cung cấp Quân đội Nhân dân Việt Nam), một trong những cán bộ kiệt xuất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ít lâu sau, ông Trần Đăng Ninh bị bắt và Văn Tiến Dũng bị mất liên lạc hoàn toàn với tổ chức.


    Không trở về quê vì đang bị Thực dân Pháp truy lùng, ông quyết định rủ Nguyễn Tiến Lãng – Cũng là một chiến sĩ hoạt động tích cực trong thời kỳ 1936 – 1939 (thời kì của Mặt tộc dân chủ), chưa bị lộ tung tích – về Hà Đông để vừa gây dựng phong trào và chờ dịp nối liên lạc với Trung ương.


    Cùng với Nguyễn Tiến Lãng, ông sắm vai thợ mộc đi về các làng xóm sửa chữa vặt các đồ gỗ, đồng thời khéo léo tuyên truyền cách mạng. Sau đó ông làm mướn cho một bà cụ chuyên bán hàng ở chợ Nứa (mỗi tháng 6 phiên, làng Đoan Nữ, Mỹ Đức, Hà Tây). Lúc rảnh rỗi, Văn Tiến Dũng rủ con trai bà chủ la cà vào trong xóm kết bạn với trai làng cho đến khi thân thì lựa lời giác ngộ họ. Chẳng bao lâu sau, chi bộ Đảng vùng này được thành lập và lan sang cả làng bên (Vĩnh Lạc).


    Trong thời gian này, ông còn giác ngộ được Lý Bảng khiến cho gia đình Lý Bảng trở thành một cơ sở của Việt Minh – tên thật là Nguyễn Viết Bảng, lý trưởng làng Vĩnh Lạc, một người có học thức, yêu thơ văn, yêu nước và căm ghét Thực dân Pháp.


    Những hoạt động của ông khi làm thuê cho bà cụ chủ hàng bị để ý bởi mật thám, được sự giúp đỡ của Lý Bảng, ông tạm thời xuống tóc đi tu tại ngôi chùa bỏ hoang Bột Xuyên thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây nhằm che mắt mật thám tiếp tục bám cơ sở để tuyên truyền Cách mạng. Lúc này ông 25 tuổi.


    Tháng 3/1943, ông bắt được liên lạc với Đảng và được chỉ định làm Bí thư Ban cán sự Đảng tỉnh Hà Đông. Tháng 6/1943, ông được chỉ định tham gia Xứ ủy Bắc Kỳ.


    Ngày 8/1/1944, ông làm Bí thư Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh. Tháng 4 /1944, ông được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. Sau khi kết thúc một khóa học về Quân sự tại An toàn khu, tháng 8/1944, ông bị thực dân Pháp bắt lần thứ 3.


    3 giờ sáng ngày 27/12/1944, ông đã dũng cảm vượt ngục. Chỉ ít ngày sau, Tòa án thực dân ở Bắc Ninh đã kết án ông tử hình vắng .


    Tháng 4 năm 1945 trong Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ do Trung ương Đảng triệu tập, ông được cử vào Ủy ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ (Bộ tư lệnh miền Bắc Đông Dương) cùng với các ông Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh, Lê Thanh Nghị, Chu Văn Tấn. Đồng thời được chỉ thị trong thường trực của Ủy ban hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thường vụ Trung ương Đảng và phụ trách trực tiếp chấn chỉnh tổ chức Chiến khu Quang Trung gồm các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, thành lập các đơn vị Cứu quốc quân, chuẩn bị và tiến hành Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám giành chính quyền ở các tỉnh kể trên.


    Tháng 8/1945, ông chỉ đạo vũ trang giành chính quyền ở các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa.


    Sau cách mạng tháng Tám, tháng 11 năm 1945, ông được giao nhiệm vụ lập Chiến Khu II (gồm 8 tỉnh phía Tây Bắc và Tây Nam Bắc Bộ), làm Chính ủy chiến khu, tham gia Quân ủy Trung ương vừa chỉ đạo một số đơn vị của khu “Nam tiến” đánh Pháp, vừa chỉ đạo các cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp từ Vân Nam (Trung Quốc) và từ Sầm Nưa (Lào) tiến công vào Lai Châu, Sơn La.


    Tháng 12/1946, ông là Cục trưởng Cục Chính trị Quân đội Quốc gia Việt Nam, Phó bí thư Quân ủy Trung ương. Ngày 25 /1/1948, ông được phong quân hàm thiếu tướng.



    Từ tháng 10/1949 đến năm 1950, ông là Chính ủy Liên khu 3, kiêm Tư lệnh liên khu, tham gia Thường vụ Khu ủy Khu 3. Tháng 1 năm 1951, sau chiến dịch giải phóng Biên giới Việt-Trung, ông được Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Bộ Tổng tư lệnh cử ra thành lập và làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn chủ lực 320 (Đại đoàn Đồng Bằng) một đại đoàn hoạt động trong vùng địch kiểm soát ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.



    Tháng 11 năm 1953, sau chiến dịch phản công liên tiếp của quân và dân ta đánh bại cuộc hành quân Hải Âu của quân đội Pháp ra tây nam Ninh Bình kết thúc, ông giữ chức Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và tham gia Tổng quân ủy và là Tổng tham mưu trưởng lâu nhất tính cho đến hiện nay (thay Đại tướng Hoàng Văn Thái).


    Năm 1954, ông là Trưởng đoàn đại biểu của Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ủy ban Liên hiệp đình chiến thi hành Hiệp định Giơ ne vơ.



    Từ năm 1954 đến năm 1978, ông là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông đã cùng các ông trong Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo trực tiếp việc tổ chức huấn luyện xây dựng lực lượng vũ trang. Đặc biệt đã xây dựng và chỉ đạo các lực lượng phòng không-không quân, hải quân làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân của ta đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ ra miền Bắc Việt Nam.


    Ông, trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch:


    Đường 9 Nam Lào (mùa Xuân 1971) đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Quân đội Việt Nam Cộng hòa và quân Mỹ nhằm phá hủy các đơn vị hậu cần dọc biên giới Việt Lào của miền Bắc chi viện cho miền Nam nhằm cắt đường chiến lược Hồ Chí Minh.


    Trị Thiên (3/1972) tiêu diệt sư đoàn quân đội Việt Nam Cộng hòa cùng toàn bộ hệ thống phòng ngự của chúng giải phóng tỉnh Quảng Trị.


    Điện Biên Phủ trên không (12/1972) đánh bại cuộc tập kích đường không của Mỹ đối với miền Bắc Việt Nam (12/1972) đập tan huyền thoại B52 của Đế quốc Mỹ buộc Mỹ phải ngồi vào phòng đám phán tại Paris 1973 và rút quân khỏi miền Nam Việt Nam.


    Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên (1975), trong chiến dịch này ông thay mặt Bộ Chính trị chỉ đạo chiến dịch (Tư lệnh chiến dịch là Trung tướng Hoàng Minh Thảo, Chính ủy là Đại tá Đặng Vũ Hiệp).


    Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh (4/1975), giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Chiến dịch Hồ Chí Minh là một trong những đỉnh cao trong đường binh nghiệp của ông, được giới quân sự trên Thế giới đánh giá cao vì chiến dịch đã giải phóng Sài Gòn trong một thời gian ngắn, trong hiện trạng gần như nguyên vẹn. Trong khi Quân đội Sài Gòn tập trung ở đây một lượng lớn lực lượng cũng như binh khí kĩ thuật. Với kinh nghiệm của một vị tướng đã dạn dày trận mạc, ông đã chỉ đạo những lối đánh táo bạo, thọc sâu, kết hợp vu hồi, đột phá, biết tạo thời cơ, nắm thời cơ, chủ động tiến công tiêu diệt địch, giải phóng Sài Gòn-Gia Định, giải phóng hoàn toàn miền Nam.


    Từ tháng 5/1978 đến năm 1986, ông được Bộ Chính trị Trung ương Đảng giao nhiệm vụ là, Phó bí thư thứ nhất Quân ủy Trung ương. Tháng 2/1980 đến 1986 ông là Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng.Từ năm 1984 đến 1986 ông là Bí thư Đảng uỷ Quân sự Trung ương.



    Ông là tác giả của nhiều tác phẩm về quân sự như "Mấy vấn đề về nghệ thuật quân sự Việt Nam"...



    Ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II (2/1951); Ủy viên Trung ương, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị khóa III (3/1960); Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng (3/1972). Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (12/1976), ông được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị.



    Ông được bầu làm đại biểu Quốc hội và Ủy viên Hội đồng Quốc phòng từ khóa II (1960) đến khóa VII (1981 – 1986).



    Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (3/1982), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được phân công phụ trách chỉ đạo công tác Tổng kết kinh nghiệm chiến tranh và biên soạn lịch sử Quân đội.



    Là Tổng Tham mưu trưởng của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong một thời gian dài, vị Tổng tham mưu trưởng lâu năm nhất (từ năm 1954 đến năm 1978), tên tuổi của ông luôn gắn liền với những chiến thắng lớn của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong hai cuộc Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cùng với Đại tướng Võ Nguyên Giáp ông là một trong hai vị tướng chiến lược của Cách mạng Việt Nam được cả Thế giới biết đến. Trong kháng chiến chống Pháp, ông được cử làm Tổng tham mưu trưởng thay Đại tướng Hoàng Văn Thái (khi đó là Thiếu tướng) khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra quyết liệt ở giai đoạn cuối. Sau 9 năm kháng chiến trường kì, Quân đội ta đã trưởng thành vượt bậc. Cách tác chiến của ta không còn là ở ‘Tiểu đoàn tập trung, đại đội độc lập’ nữa mà đã có những binh đoàn chủ lực, có khả năng đọ sức với những đơn vị được trang bị hiện đại Thực dân Pháp cũng như tiến hành những chiến dịch Quân sự trên một diện rộng quy mô toàn quốc. Tuy nhiên việc phối hợp tác chiến và đề ra chiến lược trên một quy mô rộng như vậy làm công tác tham mưu trở lên hết sức phức tạp và đặc biệt khi ta quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, một chiến dịch quyết định thành công của công cuộc kháng chiến 9 năm của cả dân tộc – Đại tướng Văn Tiến Dũng được cử làm Tổng tham mưu trưởng trong một hoàn cảnh như thế. Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, mặc dù không trực tiếp ra chiến dịch nhưng ở Căn cứ địa Việt Bắc ông trở thành một trong hai chỉ huy Quân sự cao nhất, tham mưu cho Bộ chính trị mở một loạt các chiến dịch nhằm hỗ trợ cho Chiến dịch Điện Biên Phủ. Tuy nhiên, trên Thế giới ông được biết đến nhiều hơn trong cuộc Kháng chiến Chống Mỹ cứu nước, khi trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch lớn như Đường 9 Nam Lào (1971), Trị Thiên (1972), Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (12/1972), Tây Nguyên (3/1975) và đặc biệt Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (4/1975). Trong con mắt của giới quân sự phương Tây thì ông luôn được xem như là một người cộng sự ăn ý của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về tư tưởng và ý đồ quân sự.

  9. linhvienthong07 Member

    Số bài viết: 83
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 6
    Chủ tịch Tôn Đức Thắng


    [IMG]


    TIỂU SỬ CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG

    Chủ tịch Tôn Đức Thắng,
    Bí danh: Thoại Sơn, sinh ngày 20–8-1888, tại làng Mỹ Hòa Hưng, Thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Thân phụ tên là Tôn Văn Đề, thân mẫu tên là Nguyễn Thị Di. Thành phần gia đình xuất thân: Nông dân.



    Trong các năm từ 1906 – 1909, Bác Tôn học tại Trường Kĩ nghệ Viễn Đông. Sau đó, Bác làm công nhân ở Nhà máy Ba Son của Hải quân Pháp ở Sài Gòn và đã từng tổ chức, lãnh đạo công nhân bãi công năm 1912 ở Sài Gòn. Năm 1914, Bác bị bắt lính sang Pháp và làm thợ máy cho một đơn vị Hải quân Pháp. Ngày 19/4/1919, Bác Tôn tham gia cuộc khởi nghĩa Hắc Hải của hải quân Pháp bảo vệ cách mạng Tháng Mười Nga. Tại đây Bác là người treo cờ đỏ trên chiến hạm để ủng hộ cách mạng Nga.



    Năm 1920, Bác về nước, lập ra Công hội bí mật ở Sài Gòn; vận động công nhân đấu tranh, tiêu biểu là cuộc bãi công của công nhân Ba Son (tháng 8 năm 1925). Năm 1927, Bác tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Ủy viên Ban Chấp hành Kỳ bộ Nam Kỳ. Năm 1928, Bác bị thực dân Pháp bắt ở Sài Gòn, kết án 20 năm tù khổ sai, đày ra Côn Đảo (1930-1945). Tại nhà tù Côn Đảo, Bác Tôn đã chính thức trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (1930) và luôn tham gia chi uỷ của chi bộ bí mật trong nhà tù Côn Đảo..


    Sau cách mạng Tháng Tám 1945, Bác Tôn Đức Thắng được tự do. Người trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến. Bác từng giữ những chức vụ quan trọng: Bí thư Xứ ủy Nam Bộ (1945), Phó ban Thường trực Quốc hội (1946-1955), Trưởng ban Trưởng ban Thường trực Quốc hội (1955-1960) tương đương Chủ tịch Quốc hội sau này. Bác Tôn là Đại biểu Quốc hội liên tục từ khóa Iđến khoá VI, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ khóa II đến khóa IV.


    Về chính quyền, Bác là Bộ trưởng Bộ Nội vụ (1947); Thanh tra đặc biệt toàn quốc (tháng 8 năm 1947), Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1960-1969), Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau này là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1969-1980).

    Về đoàn thể,
    Bác là Phó hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (1946-1951), Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Mặt trận Liên Việt (1951-1955), Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955-1977), Chủ tịch danh dự Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1977-1980).


    Bác mất ngày 30-3-1980, thọ 92 tuổi, trên cương vị Chủ tịch nước.

    Bác Tôn được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng năm 1958, nhân dịp tròn 70 tuổi và là người đầu tiên được tặng Huân chương này. Tên Bác được đặt cho một đường phố ở thành phố Odessa, Ukraina vì liên quan đến sự kiện phản chiến ở Hắc Hải. Thành phố Long Xuyên - quê hương Bác Tôn được vinh dự mang tên Bác - thành phố Tôn Đức Thắng (thành phố Bác Tôn).


  10. Siêu_quậy New Member

    Số bài viết: 62
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Quang Trung Nguyễn Huệ (1752-1792)
    [IMG] Nguyễn Huệ sinh năm Quý Dậu (1752), là em của Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc. Khi còn nhỏ, Nguyễn Huệ thường được gọi là chú Thơm, là em thứ hai trong nhà. Trong ba anh em, Nguyễn Huệ có nhiều đặc điểm nổi trội nhất: tóc quăn, tiếng nói sang sảng như chông, cặp mắt sáng như chớp, có thể nhìn rõ mọi vật trong đêm tối.

    Dưới quyền của Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc, ông được phong làm Long Nhương tướng quân khi mới 26 tuổi. Là một tay thiện chiến, hành quân chớp nhoáng, đánh đâu được đấy, Nguyễn Huệ nhanh chóng trở thành vị tướng trụ cột của vương triều Tây Sơn. Khi mà vua Thái Đức đang phải lo củng cố xây dựng triều đình, thì Nguyễn Huệ là người được trao cầm quân đánh Đông dẹp Bắc. Tất cả những chiến thăng lớn vang dội của quân Tây Sơn đều gắn liền với tên tuổi của vị tướng trẻ tài ba này.
    Đem quân ra Thăng Long lật nhào họ Trịnh chuyên quyền, Nguyễn Huệ tỏ ý tôn phò nhà Lê. Cùng với thuộc tướng là Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ vào điện Vạn Thọ tiếp kiến vua Lê. Lê Hiển Tông trân trọng mời Nguyễn Huệ ngồi ở sập bên giường ngự mà hỏi thăm yên ủi. Nguyễn Huệ thưa:

    - Tôi vốn là kẻ áo vải ở Tây Sơn, nhân thời thế mà nổi dậy. Bệ hạ tuy không cho cơm ăn, áo mặc, nhưng tôi ở cõi xa, bấy lâu vẫn kính mến thánh đức. Bữa nay được nhìn thấy mặt trời, đủ thoả được tấm lòng khao khát. Họ Trịnh vô đạo, hiếp đáp hoàng gia, nên trời mượn tay tôi một trận phá ngay được, ấy là nhờ ở oai đức của bệ hạ.
    Vua Lê ôn tồn đáp:

    - Ấy là võ công của tướng quân cả, chứ quả nhân nào có tài đức gì!
    Nguyễn Huệ khiêm tốn thưa:

    - Tôi chỉ tôn phò, đau dám kể tới công lợi. Việc ngày nay đã xảy ra như thế thật bởi lòng trời xui nên hết thảy... Thế là trời có ý xui bệ hạ chấn kỷ cương, nảy mực, khiến cho trong ấm ngoài êm, tôi đây cũng được ơn nhờ.

    Vua Lê sai các cựu thần Trần Công Sáng, Phan Lê Phiêu, Uông Sĩ Điển ra tiếp chủ suý Tây Sơn. Sau cuộc gặp gỡ này, thiên hạ yên lòng, chợ lại họp, ruộng lại cày, tình hình trong nước dần dần ổn định.
    Theo lời Nguyễn Hữu Chỉnh chỉ vẽ, Nguyễn Huệ xin vua Lê cho thiết lễ đại triều ở điện Kính Thiên để Huệ dâng sổ sách quân dân, tỏ cho toàn thiên hạ rõ việc tôn phò đại thống. Cử chỉ này của Nguyễn Huệ khiến ông vua cao tuổi Lê Cảnh Hưng vô cùng xúc động, chứng kiến việc ban bố chiếu thư "nhất thống".

    Đáp lại công lao của chủ súy Tây Sơn, vua Lê sai sứ sang tận doanh quân thứ phong cho Nguyễn Huệ làm Nguyễn Súy Dực chính phù vận Uy Quốc công. Nguyễn Huệ sai người sang cảm tạ vua Lê theo đúng lễ nhưng trong lòng không vui. Nguyễn Huệ nói với Nguyễn Hửu Chỉnh rằng:

    - Ta mang vài vạn quân ra đây, một trận dẹp yên Bắc Hà. Vậy thì một thước đất, một người dân bây giờ không phải của ta thì của ai vào đây nữa? Dẫu ta muốn xưng đế, xưng vương chi chi, ai còn dám làm gì nổi ta? Thế mà ta còn nhường nhịn không làm, chẳng quan hậu đãi nhà Lê đó thôi, danh mệnh Nguyên súy, quốc công có làm cho ta thêm hơn gì? Các đình thần Bắc Hà muốn lấy nước miếng cho cái danh hão, chực lung lạc ta sao? Đừng bảo ta là mán mọi, được thế đã lấy làm vinh rồi đâu! Ta không nhận lấy, chắc người ta bảo ta thất lễ; ta nhận mà không nói ra, người ta lại cho ta là không biết gì!

    Dứt lời, Nguyễn Huệ hầm hầm tức giận. Nhờ có Nguyễn Hữu Chỉnh là tay khéo dàn xếp, Huệ mới nguôi lòng. Sau khi trở thành phò mã nhà Lê, Nguyễn Huệ không trực tiếp can dự vào nội bộ triều Lê vì còn giữ tiếng. Khi vua Lê bị bệnh nặng, công chúa Ngọc Hân giục phò mã Nguyễn Huệ vào thăm song ông từ chối:

    - Tôi chẳng sớm thì chầy rồi cũng về Nam; việc nước không dám dự đến. Vả, tôi xa xôi tới đây, chắc người ngoài Bắc hãy còn chưa tin mấy, nếu vô nội thăm hỏi vua cha, muôn một xa giá chầu Trời, chẳng hóa ra tự mình chuốc lấy cái tiếng hiềm nghi không bao giờ giãi toả được?"
    Vào một đêm mưa to, gió dữ của tháng 7 năm Bính Ngọ (1786), thành Thăng Long nước ngập đến một thước, vua Lê Cảnh Hưng qua đời ở tuổi thọ 70. Trước khi nhắm mắt ông còn kịp trối lại cho Hoàng tôn Duy Kỳ:

    - Quân bên ngoài đang đóng ở đây; truyền nối là việc quan trọng, cháu nên bàn cùng Nguyên suý (Nguyễn Huệ), chứ đừng tự tiện làm một mình.
    Trái với những người muốn lập Hoàng tôn Duy Kỳ, công chúa Ngọc Hân khi được chồng hỏi nên lập ai lên ngôi báu, đã nghiêng về Lê Duy Cận. Nghe lời vợ, Nguyễn Huệ muốn hoãn lễ đăng quang của Duy Kỳ. Cả triều đình nao núng ngờ vực. Các tôn thất nhà Lê cho rằng công chúa Ngọc Hân cố tình làm lỡ việc lớn của triều đình và bảo sẽ từ mặt công chúa. Ngọc Hân sợ, vội nhân nhượng mà nói lại với Nguyễn Huệ thu xếp cho Duy Kỳ được nối ngôi.

    Đến ngày lễ thành phục của nhà vua quá cố Lê Hiển Tông ở nội điện, Nguyễn Huệ thực hiện đầy đủ nghi lễ của phò mã: rể mặc áo tang trắng, đứng trong điện dự lễ. Thấy viên tiểu lại có cử chỉ bất kính trọng lúc làm lễ, Nguyễn Huệ lập tức sai lôi ra chém. Từ đó triều thần khiếp sợ và nghi lễ được cử hành hết sức tôn nghiêm. Ngày đưa linh cữu vua xuống thuyền về Thanh Hoá để an táng, Nguyễn Huệ mặc tang phục đi hộ tang đến tận bờ sông, lại sai bộ tướng là Trần Văn Kỷ và Nguyễn Hữu Chỉnh mặc áo tang trắng đi hộ tống đến tận bến sông, lại sai bộ tướng là Trần Văn Kỷ và Nguyễn Hữu Chỉnh mặc áo tang trắng đi hộ tống đến lăng Bàn Thạch. Mặc dù vừa mới trải qua binh đao, tang phục tuy đơn sơ, giản dị nhưng lễ nghi thì đầy đủ và trang trọng khác thường. Xong tang trở về, Nguyễn Huệ tự hào nói với công chúa Ngọc Hân:

    - Tiên đế có hơn 30 người con, thế mà không người nào bằng một mình nàng là gái. Trong việc tang tiên đế, mình với các anh em khác, ai hơn nào?

    Một thời gian sau Nguyễn Huệ đem công chúa Ngọc Hân cùng Nguyễn Nhạc rút quân về Nam, rồi được phong làm Bắc Bình Vương.

    Lần ra Bắc lần thứ hai năm Mậu Thân (1788), khi Lê Chiêu Thống đã bỏ kinh thành chạy ra ngoài, Bắc Bình Vương cũng đã nghĩ đến chiếc ngai vàng bỏ trống, đã triệu tập các cựu thần nhà Lê để tính việc, song không thuận lợi. Ông cho tổ chức lại hệ thống cai trị ở Bắc Hà, đưa những danh sĩ có tên tuổi đã được Bắc Bình Vương trọng dụng như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích ra đảm đương công việc. Trí thức Bắc Hà lần lượt ra giúp Bắc Bình Vương như Trần Bá Lãm, Võ Huy Tấn...
    Sau khi đãlập Sùng Nhượng công Lê Duy Cận lên làm Giám quốc, sắp đặt các quan coi việc Bắc Hà, một lần nữa Nguyễn Huệ lại rút quân về Nam. Trước khi trở về Nam, Bắc Bình Vương đã dặn bảo cận thần rằng:

    - Đại Tư mã Ngô Văn Sở, Nội hầu Phan Văn Lân là nanh vuốt của ta; Chưởng phủ Nguyễn Văn Dụng, Hộ bộ thị lang Trần Thuận Ngôn là tâm phúc của ta. Lại bộ thị lang Ngô Thì Nhậm tuy là người mới, nhưng là bậc tân thần, ta coi như khách. Nay ta giao cho các khanh hết thảy mọi việc quân quốc, coi quản 11 trấn trong toàn hạt. Hễ có điều chi, ta cho cứ được tiện nghi làm việc. Song các khanh cần phải hợp bàn với nhau, chứ đừng phần bì kẻ mới người cũ, miễn sao làm cho được việc, ta mới yên lòng...

    Thế rồi không đầy 6 tháng sau, Bắc Bình Vương đang ở thành Phú Xuân thì được tin Lê Chiêu Thống đã dẫn đội quân xâm lược Mãn Thanh vào chiếm đóng kinh thành Thăng Long, quân đội Tây Sơn do Đại Tư mã Ngô Văn Sở chỉ huy phải tạm rút lui về đóng ở Tam Điệp-Biện Sơn chờ lệnh. Nguyễn Huệ lại lần thứ ba ra Thăng Long. Lần này ông ra Bắc với tư cách là Quang Trung hoàng đế. Thể theo lời khuyên của tướng lĩnh và lòng mong mỏi của ba quân cùng thần dân, Bắc Bình Vương cho chọn ngày, lập đàn tế trời đất, thần sông, thần nước và lên ngôi hoàng đế tại Phú Xuân, ngay hôm đó kéo cả quân bộ, quân thuỷ ra Bắc diệt quân xâm lược Thanh, giải phóng Thăng Long và Bắc Hà.

    Dự tính trước mọi khả năng tiếp theo của thời cuộc, vua Quang Trung đã nõi với quan quân ngay trước khi bước bào chiến dịch:

    - Nay ta tới đây, thân đốc viện binh, chiến thư ra sao đã có phương lược sẵn. Chỉ nội mười ngày nữa, thế nào ta cũng quét sạch giặc Thanh. Song, ta nghĩ: nước Thanh lớn hơn nước ta gấp mười lần, Thanh bị thua tất lấy làm thẹn, chắc phải tìm cách rửa hờn. Nếu cứ để binh lửa kéo dài mãi, thật không phải là phúc trăm họ, lòng ta không nỡ! Nên chi, sau khi thắng, ta nên khéo đường từ lệnh thì mới dập tắt được ngọn lửa binh tranh, việc từ lệnh đó, ta sẽ giao cho Ngô Thì Nhậm.

    Đúng như dự kiến và lời hứa hẹn của vị tổng binh, ngày 7 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789) quân đội của hoàng đế Quang Trung đã vui vẻ ăn tết khai hạ tại thành Thăng Long. Hoa đào làng Nhật Tân còn đang nở rộ đón chào chiến thắng.

    Việc binh lại giao cho Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân, việc ngoại giao và chính trị giao cho Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích, lần thứ ba Nguyễn Huệ đã ra Bắc rồi lại về Nam. Lần này với tư thế là Hoàng đế, Quang Trung gấp rút tiến hành việc xây dựng kinh đô mới ở Nghệ An, nơi mà từ xưa là quê gốc của anh em Tây Sơn và trong con mắt của Quang Trung là trung gian Nam và Bắc. Mặt khác, theo kế hoạch ngoại giao đã được Quang Trung vạch ra: bình thường mối bang giao với nhà Thanh. Triều đình Quang Trung đã buộc sứ Thanh phải vào tận Thuận Hoá phong vương cho Nguyễn Huệ; rồi Hoàng đế Quang Trung giả đã sang triều kiến và dự lễ mừng thọ 80 tuổi của vua Càn Long nhà Thanh. Dưới thời trị vì ngắn ngủi của triều Quang Trung, nhiều chính sách về xã hội, chính trị và kinh tế được ban hành khá độc đáo, mở ra những triển vọng cho một xã hội năng động hơn. Song chưa được bao lâu, căn bệnh đột ngột và hiểm nghèo đã cướp đi cuộc sống của ông vua đầy tài năng, có những dự định lớn lao, mới ở tuổi 40.

    Năm Nhâm Tý (1792), sau nhiều lần bắn tin rồi lại gửi thư trực tiếp đến vua nhà Thanh xin được sánh duyên cùng một nàng công chúa Bắc quốc và mượn đất đóng đô, vua Quang Trung đã sai toàn sứ bộ do Vũ Văn Dũng làm chánh sứ sang triều kiến vua Thanh Càn Long. Trong một cuộc bệ kiến của sứ thần Vũ Văn Dũng ở Ỷ lương các, những yêu cầu của vua Quang Trung đã được vua Thanh chấp thuận. Vua Càn Long đang chuẩn bị cho cô công chúa khuê các sang đẹp duyên cùng Quốc vương nước Nam; Quảng Tây được hứa sẽ nhường cho Quốc vương phò mã đóng đô để cho gần "Thánh Giáo". Giữa lúc sứ thần đang mừng vui vì sắp hoàn thành một trọng trách quá sức mình, thì được tin sét đánh: vua Quang Trung từ trần. Mọi việc đều bị gác lại, Vũ Văn Dũng đành ôm hận trở về. Rồi từ đó, việc xin lại đất Lưỡng Quảng chỉ là câu chuyện lịch sử mà cơ đồ của vương triều Tây Sơn cũng dần dần tan theo giấc mộng xuân của nàng công chúa Mãn Thanh. Một chiều đầu thu, vua Quang Trung đang ngồi bỗng thấy hoa mắt, sầm tối mặt mũi, mê man bất tỉnh. Người xưa gọi đó là chứng "huyễn vận" còn ngày nay y học gọi là tai biến mạch máu não. Khi tỉnh dậy được, nhà vua cho triệu trấn thủ Nghệ An Trần Quang Diệu về triều bàn việc thiên đô ra Nghệ An. Nhưng việc chưa quyết xong thì bệnh tình nhà vua đã nguy kịch. Trước khi mất, nhà vua dặn Trần Quang Diệu và các quần thần:

    - Ta mở mang bờ cõi, khai thác đất đai, có cả cõi Nam này. Nay đau ốm, tất không khỏi được. Thái tử "Nguyễn Quang Toản" tư chất hơi cao, nhưng tuổi còn nhỏ. Ngoài thì có quân Gia Định (Nguyễn Ánh) là quốc thù; mà Thái Đức (Nguyễn Nhạc) thì tuổi già, ham dật lạc, cầu yên tạm bợ, không toan tính cái lo về sau. Khi ta chết rồi, nội trong một tháng phải chôn cất, việc tang làm lao thảo thôi. Lũ người nên hợp sức mà giúp Thái tử sớm thiên đô về Vĩnh Đô (Vinh ngày nay) để khống chế thiên hạ. Bằng không, quân Gia Định kéo đến thì các ngươi không có chỗ chôn đâu!

    Ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (1792) vào khoảng 11 giờ khuya, Quang Trung từ trần, ở ngôi 5 năm, thọ 40 tuổi, miếu hiệu là Thái tổ Vũ hoàng đế. Thi hài ông được táng ngay trong thành, tại phủ Dương Xuân. Sau khi Nguyễn Ánh lấy được Phú Xuân đã sai quật mồ mả lên để trả thù.
    Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi, sai sứ sang nhà Thanh báo tang và xin tập phong. Vua Càn Long thương tiếc tặng tên hiệu là Trung Thuần, lại thần làm một bài thơ viếng và cho một pho tượng, 300 lạng bạc để sửa sang việc tang. Sứ nhà Thanh đến tận mộ ở Linh Đường (mộ giả) thuộc huyện Thanh Trì (Hà Nội) để viếng.


    Hậu duệ:
    Nguyễn Quang Toản
    Nguyễn Quang Bàn
    Nguyễn Quang Thiệu
    Nguyễn Quang Khanh
    Nguyễn Quang Đức
    Nguyễn Thị Ngọc Bảo
    Nguyễn Quang Thùy
    Nguyễn Quang Cương
    Nguyễn Quang Tự
    Nguyễn Quang Điện
    Nguyễn Quang Duy
    và một số khác, tổng cộng khoảng 20.
  11. Xuân Hiếu Phạm Xuân Hiếu

    Số bài viết: 2,124
    Đã được thích: 2
    Điểm thành tích: 38
    Cảm ơn các bạn nhiều. Kiến thức khá bổ ích vì ít khi mình đi search thông tin các nhân vật ls trừ khi có việc.
    Nhưng lưu ý các bạn khi bài viết quá dài nên cách ra giữa các phần, tránh bôi 1 màu vì như thế rất khó đọc, các bài viết từ DTKH trở xuống nhìn dễ đọc hơn.
  12. thuongdt New Member

    Số bài viết: 791
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    mọi người hãy bỏ chút thời gian để đọc nào, hấp dẫn ko kém 1 cuốn truyện đâu. Mỗi con người là 1 thế giới!
  13. linhvienthong07 Member

    Số bài viết: 83
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 6
    Võ Trường Toản



    [IMG]

    Đền thờ Võ Trường Toản


    Võ Trường Toản
    (? - 27 tháng 7 năm 1792) hiệu là Sùng Đức, quê làng Thanh Kệ, dinh Quảng Đức (nay thuộc huyện Quảng Điền, Huế), sau vào Nam, ngụ tại huyện Bình Dương, phủ Gia Ðịnh (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông nổi tiếng là một người thầy đạo cao, đức trọng, uyên bác hơn người tại miền Nam Việt Nam.


    Thân thế và sự nghiệp


    Tổ tiên gốc
    người Hoa lánh nạn Mãn Thanh. Rồi theo làn sóng Nam tiến của người Việt, sau cuộc hôn nhân của công nữ Ngọc Vạn, con gái thứ hai của Chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên với vua Chân Lạp Chei Chetta (1668-1628), tổ tiên Võ Trường Toản cũng từ miền Trung vào Nam lập nghiệp. vv...

    Trong thời chiến tranh Tây Sơn-Nguyễn Ánh, ông ở ẩn, mở trường dạy học, không tham gia vào chính sự. Học trò của ông khá đông và nhiều người nổi tiếng như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, Ngô Tùng Châu, Phạm Ðăng Hưng, Lê Bá Phẩm, Phạm Ngọc Uẩn

    Nguyễn Phúc Ánh rất mến mộ ông, nên mỗi khi ghé Gia Định thường triệu ông đến giảng sách, đàm đạo. Nguyễn Phúc Ánh muốn trọng dụng ông, nhưng ông khéo léo từ chối, chỉ tiến chúa Nguyễn 10 điều về phương lực cứu quốc và kiến quốc.

    [IMG]

    Tượng Võ Trường Toản tại đền thờ


    Võ Trường Toản được các sĩ phu Nam Bộ tôn là "Thái sơn Bắc đẩu", là "Gia Định xử sĩ". Ông mất ngày mồng 9 tháng 6 năm Nhâm Tý (tức 27 tháng 7, 1792). Lúc mất ông được nhà Nguyễn tặng danh hiệu "Gia Ðịnh xử sĩ Sùng Đức Võ tiên sinh"
    để khắc vào bia mộ, và đôi liễn truy điệu:
    Triều hữu huân danh, bán thuộc hà phần cực học;Đẩu nam phong giáo, tề khâm nhạc lộc dư hay.Để tưởng nhớ công đức của ông, học trò cũ đã viết đôi liễn:
    Sinh tiên giáo huấn đắc nhân, vô tử nhi hữu tửMột hậu thịnh danh tại thế, tuy vong giả bất vong"(Dịch nghĩa: Lúc sống dạy dỗ được người, không con cũng như có.Chết, tiếng tăm còn để, mất mà chẳng mất). Hài cốt ông lúc đầu được chôn tại làng Hòa Hưng, huyện Bình Dương. Năm 1855, Phan Thanh Giản tâu xin lập miếu thờ ông tại làng Hòa Hưng. Sau khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ (1862), Phan Thanh Giản cùng với đốc học Vĩnh Long Nguyễn Thông, hiệp trấn An Giang Phạm Hữu Chánh, cùng với nhiều sĩ phu khác đứng ra lo việc cải táng Võ Trường Toản về làng Bảo Thạnh, Ba Tri, Bến Tre, với ý nghĩa là không để mộ thầy nằm trong vùng Pháp tiến chiếm. Ngày cải táng (28 tháng 3 năm 1867), Nguyễn Thông đã thay mặt các nho sĩ đứng làm chủ lễ, các quan chức ở An Giang, Hà Tiên đều mặc đồ tang đến lễ bái.

    Ngày 28 tháng 3 năm 1867, Phan Thanh Giản thảo một bài văn bia, ca ngợi công đức và sĩ khí của thầy Võ Trường Toản. Ông Phan đã mướn thợ khắc bài văn vào đá, nhưng việc chưa xong thì ông đã tuẫn tiết vào ngày 4 tháng 8 năm 1867. Năm năm sau (1872), ông Trương Ngọc Lang mướn thợ tiếp tục, tấm bia mới được hoàn thành.

    Tác phẩm của Võ Trường Toản hầu như bị thất lạc hết, chỉ còn lưu truyền bài "Hoài cổ phú", viết bằng quốc âm, dài 24 câu.Khu mộ và đền thờ

    [IMG]
    [IMG]

    Mộ Võ Trường Toản (trái), vợ (giữa) và con gái(phải)



    Khu mộ của Võ Trường Toản, vợ và con gái (vợ chồng ông chỉ sinh được 1 gái, đã bị bệnh mất từ nhỏ) được xây dựng theo dạng voi phục, nằm trong khuôn viên thoáng rộng. Ở ngoài khu mộ, phía bên phải là một nhà thờ nhỏ, đẹp với mái cong, hai tầng, và bên trong có đặt tượng của ông.

    Khu mộ Võ Trường Toản còn được người ở Bảo Thạnh gọi là khu mộ ông Hậu Tổ, vì ông là người có công truyền dạy luân lý Khổng Mạnh ở đất Đồng Nai - Gia Định.

    Di tích khu mộ và đền thờ đã được Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 31 tháng 08 năm 1998.
  14. shynec <marquee><b><i>Không còn nhỏ nhưng cũng chưa đủ lớ

    Số bài viết: 714
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 16
    Giới tính: Nam
  15. spkt_099100 Member

    Số bài viết: 949
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 16
  16. Dê con New Member

    Số bài viết: 1,272
    Đã được thích: 1
    Điểm thành tích: 0
    Còn Lê Văn Việt với Xa Lộ Hà Nội nữa ^^!
  17. ppxxdd New Member

    Số bài viết: 151
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0

Chia sẻ trang này