1. THÔNG BÁO TUYỂN ADMIN DIỄN ĐÀN 2013
    Tìm kiếm nhà trọ - Ở ghép
    THÔNG BÁO BÁN ÁO SPKT.NET CHO THÀNH VIÊN DIỄN ĐÀN


    HÃY TÌM KIẾM Ở ĐÂY TRƯỚC KHI ĐẶT CÂU HỎI
    {xen:phrase loading}

Người Việt xấu xí

Thảo luận trong 'Đọc sách truyện' bắt đầu bởi Action, 21 Tháng chín 2008.

  1. Action New Member

    Số bài viết: 766
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Người Việt xấu xí
    Bài 1: CHỮ TÍN KHÔNG QUAN TRỌNG

    Người Việt Nam mạnh về nghĩa mà yếu về tín. Lời ấy dễ khiến người nghe giật mình vì sự nặng lời. Ai nghe cũng cảm thấy mình như là bị "sốc", mặc dù vẫn lờ mờ hiểu rằng điều đó không phải là không có lý.

    Nền kinh tế hàng hoá thật sự luôn đặt chữ tín lên hàng đầu

    Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh: Để trả lời trước hết cần đặt thêm một câu hỏi, chữ tín cần cho ai?

    Kinh tế nông nghiệp không cần. Trong nông nghiệp, lao động không phải sản xuất, lao động chỉ tác động lên quá trình sinh học của vật nuôi và cây trồng. Người lao động trong nông nghiệp không làm chủ được kết quả lao động, nhiều khi công sức bỏ ra rất nhiều nhưng thiên tai một cái là trắng tay...

    Còn trong công nghiệp, tôi bỏ từng này sắt, từng này thời gian, nhiệt độ, tôi biết sản phẩm của tôi thu được sẽ như thế nào. Đó chỉ là một ví dụ.

    Do tính chất không đồng bộ của lao động và sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp nên tư duy co dãn, tính toán co dãn hình thành. Từ đó đẻ ra một tập quán du di, mười cũng như chín, xấu một chút cũng được, hôm nay cũng được mà mai cũng được, hôm nay không làm cỏ thì mai sẽ làm... Chữ tín ở đó không quan trọng. Một nền kinh tế hàng hóa thật sự thì hoàn toàn khác. Yêu cầu của kinh tế thương nghiệp là sự chính xác về số lượng, chất lượng và thời gian.

    Trong bối cảnh mà quan hệ giữa các cá nhân đòi hỏi chữ tín tới cái mức chữ tín có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động kinh tế hay lợi ích vật chất của họ, thì chữ tín đặc biệt sẽ nổi lên như một chuẩn mực. Người Việt Nam trong chiến tranh rất "tín" - chữ tín đó được quy định bởi kỷ luật quân đội. Nhưng kỷ luật quân sự tự nó cũng là một chuẩn mực xuất phát từ một thực tế là hoạt động của nhiều người với nhau, đòi hỏi một sự phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp giữa các cá nhân, các nhóm người và điều đó ảnh hưởng tới sự thành bại, sống chết...

    Nhà văn Sơn Nam: Vì sao người ta thất tín, vì tham cái vụn vặt, chỉ thấy cơ hội trước mắt, không thấy cơ hội lâu dài. Tôi đã từng thấy nhiều người, trẻ không lo học hỏi, đương chức đương quyền không lo làm hết trách nhiệm, đến lúc về già hết quyền hết chức mới nói đến trách nhiệm, mới lo đến dân đến nước thì còn lợi ích cho ai, mà biết là vì ai. Nói được mà không làm được khi có thể làm cũng là một sự bội tín.

    Sự chụp giựt, lý luận mỗi lúc một khác, thiếu một chính sách một cách lâu dài (ngay từ những việc nhỏ như chuyện đặt tên đường, chuyện giải toả...) cũng là một cách đối xử không đúng với chữ tín.



    Người Việt xấu xí:
    Bài 2: GÌ CŨNG CƯỜI

    Dân tộc nào cũng có những thói xấu riêng. Người Việt ta có nhiều phẩm chất đẹp nhưng cũng không ít tật dở. Mời các bạn cùng xem những bài khảo luận của các học giả Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 về những tật xấu của dân tộc mình. Chỉ có điều, người Việt trẻ ngày nay hẳn sẽ khác với bà con làng xóm của anh Chí ngày xưa: “Nói vậy chắc nó trừ mình ra…!”

    Nhăn răng hì một tiếng, mọi việc hết nghiêm trang.

    Việt Nam ta có một thói lạ là thế nào cũng cười. Người ta khen cũng cười, người ta chê cũng cười. Hay cũng hì, mà dở cũng hì; quấy cũng hì. Nhăn răng hì một tiếng, mọi việc hết nghiêm trang.

    Có kẻ bảo cười hết cả, cũng là một cách của người hiền. Cuộc đời muôn việc chẳng qua là trò phường chèo hết thảy không có chi là nghiêm đến nỗi người hiền phải nhăn mày mà nghĩ ngợi.

    Ví dù được y như vậy, thì ra nước Việt Nam ta cả dân là người hiền. Nếu thế tôi đâu dám đem lời phường chèo mà nhủ người nhếch mép bỏ tính tự nhiên mà làm bộ đứng đắn lại, nghiêm nhìn những cuộc trẻ chơi.

    Nhưng mà xét ra cái cười của ta nhiều khi có cái vô tình độc ác; có cái láo xược khinh người; có câu chửi người ta; có nghĩa yên trí không phải nghe hết lời người ta mà gièm trước ý tưởng người ta; không phải nhìn kỹ việc người ta làm mà đã chê sẵn công cuộc người ta.

    Thực không có tức gì bằng cái tức phải đối đáp với những kẻ nghe mình nói chỉ lấy tiếng cười hì hì mà đáp. Phản đối không tức, kẻ bịt tai chẳng thèm nghe cũng không tức đến thế...

    Ừ, mà gì bực mình bằng rát cổ bỏng họng, mỏi lưỡi, tê môi, để mà hỏi ý một người, mà người ấy chỉ đáp bằng một tiếng thì khen chẳng ơn, mắng chẳng cãi, hỏi chẳng thưa, trước sau chỉ có miệng cười hì hì, thì ai không phải phát tức.

    Ta phải biết rằng, khi người ta nói với ta, là để hỏi tình ý ta thế nào. Ai nói với mình thì mình phải đáp. Tuỳ ý mình muốn tỏ tình ý cho người ta biết thì nói thực; không hiểu thì hỏi lại; mà không muốn nói tình ý cho người ta biết, thì khéo lấy lời lịch sự mà tỏ cho người ta hiểu rằng câu hỏi khi phạm đến một điều kín của mình. Hoặc là có khôn thì lựa lời mà tỏ cho người ta biết những điều mình muốn cho biết mà thôi, và khiến câu chuyện cho người ta không khỏi căn vặn được mình nữa.

    Nhưng phàm người ta hỏi, mình đã lắng tai nghe, là mình nợ người ta câu đáp.

    Nguyễn Văn Vĩnh
    Đông Dương tạp chí



    Người Việt xấu xí:
    Bài 3: THIẾU TÍNH HỢP TÁC

    Nhiều người lớn từ lâu vẫn đùa chơi với một phép tính như thế này: ba người Nga thì bằng một người Do Thái, ba người Do Thái thì bằng một người Việt Nam, nhưng ba người Việt Nam thì... Lại còn một hình ảnh ví von khác, cũng chẳng biết là từ đâu ra: một người Việt Nam rớt xuống hồ thì tự leo lên được, nhưng ba người thì không ...

    Chúng mình là kim cương

    ...Những câu chuyện truyền miệng có tính phóng đại, ai cũng biết thế nhưng giải thích nguyên nhân thì thật khó khăn và thật khó hiểu nổi vì sao.

    Cái tính thiếu hợp tác và manh mún, nhiều người còn nói nặng lời là tính đố kỵ nhau, rõ ràng đã là mâu thuẫn với tinh thần đoàn kết, nhất là tình đoàn kết chống ngoại xâm mà dân tộc Việt Nam đã có truyền thống từ bao đời. Hay là để sống cho hoà bình, trong xây dựng và ổn định, mình sống có khó khăn hơn?
    Đoàn kết là một truyền thống của dân tộc Việt Nam, truyền thống tốt đẹp ấy không bao giờ mất. Nên cái băn khoăn mà câu hỏi vừa nêu ra tôi giới hạn câu trả lời của mình trong suy nghĩ về người trí thức, không nên suy diễn ra xa hơn nữa.

    Tôi xin bắt đầu bằng một kỷ niệm. Năm 1970, tại một hội nghị quốc tế về giáo dục ở Tokyo, một đồng nghiệp Nhật Bản đã nói với tôi trong một cuộc trò chuyện thân mật: "Các ông trí thức Việt Nam giống như những viên kim cương, còn chúng tôi là một bãi cát...". Là một người Việt Nam, tôi nhạy cảm với mọi lời nhận xét của người nước ngoài về nước mình, nhưng lúc đó tôi chỉ nghĩ đó là một lối nói khiêm tốn đặc trưng của người Nhật Bản, và sau đó không ngừng nhắc lại câu nói ấy với các đồng nghiệp trong nước để cùng nhau hởi lòng hởi dạ. Chúng mình là kim cương cơ mà!

    Nhưng rồi khi lòng mình lắng lại, dần dần cùng với thực tế, nghĩ thêm và đọc thêm, tôi mới nhận ra hết được ý nghĩa thâm thuý của câu nói ấy. Thì ra ông bạn Nhật Bản muốn nhắc một câu nói của Tôn Dật Tiên, từng ví dân tộc Trung Hoa trước cách mạng là "một bãi cát lỏng lẻo", nhưng cách mạng đã biến họ thành "một tảng đá cứng được hình thành bằng cát trộn với xi măng". Từ đó tôi luôn đặt câu hỏi trí thức Việt Nam có thật, và có nên nghĩ rằng mình là những viên kim cương hay không?

    Kim cương thì quý, vì hiếm nên quí chứ không hẳn do công dụng thực tiễn của nó. Nhưng kim cương thì khó đẽo gọt, lại khó có thứ gì như xi măng để có thể kết hợp chúng lại thành "một tảng đá cứng". Mà ai cũng biết tự cho mình là viên kim cương cả nên muốn dùng ánh sáng của riêng mình để tự phát sáng, hay tự phô trương...

    Nguyên nhân của sự "khó ngồi với nhau" còn đó, nên khi chưa được sử dụng đúng với vai trò của mình nên hiều khi kim cương lại bị coi là cát. Thời bình cần trí thức nhiều hơn và một trong những điều kiện bắt buộc là họ cũng "ngồi với nhau", là phải cũng hướng đến lợi ích chung, phải quên bớt bản thân mình đi.

    Nhiều khi trí thức Nhật Bản mà tôi thấy, khi đứng riêng lẻ ai cũng là người giỏi nhất, nhưng khi họ biết cách làm việc cùng nhau, họ đã làm được những công trình thật sự lớn lao. Quá trình hiện đại hóa càng phát triển lại càng đòi hỏi nơi mỗi cá nhân một sự hợp tác chặt chẽ và đó là một đòi hỏi tất yếu.

    Tiến sỹ Dương Thiệu Tống


    Người Việt xấu xí
    Bài 4: LẤY HOÀ LÀM QUÝ

    Một người Việt Nam lớn lên vẫn không quen với rất nhiều lời răn dạy về cách sống, cách cư xử ở đời... thôi thì chịu chín bỏ làm mười, một sự nhịn chín sự lành, thôi thì đóng cửa bảo nhau, thôi thì dĩ hoà vi quý... tất thảy đều mang một tấm lòng khoan nhượng. Nhưng những tính tốt ấy có phải lúc nào cũng là một cách sống tích cực?

    Có phải lúc nào cũng
    "chín bỏ làm mười"?

    Nếu nhìn vấn đề ở góc độ lịch sử, những cái đang trở thành nhược điểm của người Việt Nam hiện nay chủ yếu được hình thành trong thế kỷ 20.

    Một thế kỷ đầy biến động, chúng ta kế thừa một thứ chủ nghĩa phong kiến để chống chủ nghĩa thực dân và đế quốc, và quy luật chiến tranh đè bẹp, lấn át mọi quy luật kinh tế xã hội. Ở miền Bắc hình thành cơ chế bao cấp - không có cơ chế đó chúng ta không thắng Mỹ được.
    Nhưng bao cấp, nhất là bao cấp kéo dài sau năm 1975 lại làm nảy sinh hai đứa con tệ hại là thói đạo đức giả và thói vô trách nhiệm. Báo “Ong đất” của Bungari nhìn lại thời kì này của chính họ, đã tổng kết nên 6 nghịch lý mà ta có thể tham khảo :

    - Ai cũng có việc làm nhưng không ai làm việc.
    - Ai cũng không làm việc nhưng ai cũng có lương.
    - Ai cũng có lương nhưng không ai đủ sống.
    - Ai cũng không đủ sống nhưng ai cũng sống.
    - Ai cũng sống nhưng không ai hài lòng.
    - Ai cũng không hài lòng nhưng ai cũng giơ tay "đồng ý".

    Bây giờ cơ chế thị trường lại sinh ra hai đứa con là nóng ruột kiếm tiền và cắm đầu hưởng thụ. Mọi nhược điểm chỉ phát huy tác dụng trong môi trường của bốn thói xấu này. Một câu nhịn, tốt quá. Nhưng nếu tôi vô trách nhiệm, đó là sự biện hộ cho thói vô trách nhiệm của tôi.

    Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh



    Người Việt xấu xí
    Bài 5: LÒNG GANH TỊ CỦA CÁC NHÀ KHOA HỌC

    Lòng ganh tị của một nhà khoa học Đức đối với một bạn đồng nghiệp được thể hiện bằng cách bỏ ra 5 năm học hết lý thuyết của người ấy và bỏ thêm 5 năm nữa để nâng lên thành một lý thuyết cao hơn. Lòng ganh tị của một nhà khoa học Việt Nam đối với bạn đồng nghiệp được thể hiện bằng việc tìm cách chuyển sang ngạch hành chính tổ chức để ngăn chặn việc công bố và ứng dụng lý thuyết của hắn ta.

    Muốn hơn đồng nghiệp, tốt nhất là chuyển sang quản lý đồng nghiệp

    Sở dĩ như vậy là vì trong phần lớn các cơ quan của ta, kể cả cơ quan khoa học, dân chuyên môn thường lép vế một cách tuyệt đối nếu đồng thời không phải là cán bộ hành chính hay tổ chức.

    Ngay cả về phương diện chuyên môn, cán bộ hành chính hay tổ chức, dù không phải là dân chuyên môn, cũng có quyền quyết định khi xét duyệt các công trình chuyên môn (quyết định đưa vào kế hoạch, quyết định cho phép công bố hay thi công, quyết định cách đánh giá khi xét “lao động tiên tiến” hay “chiến sĩ thi đua”…). Điều này hoàn toàn hợp lý, vì mỗi công trình khoa học hay nghệ thuật đều là một đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân.

    Hơn nữa, ta thấy có những người nhường quyền tác giả công trình nếu liệu chừng công trình sẽ khó được khen thưởng do tác giả có sai phạm gì đó về đạo đức hay thuộc một thành phần có vấn đề, để “dồn” thành tích lại cho một người khác có những ưu thế khiến cho họ dễ được chấp nhận thành tích hơn.

    Vì vậy, các chuyên gia lần lượt thôi làm khoa học kỹ thuật và chuyển sang ngạch hành chính tổ chức để có thực quyền về khoa học kỹ thuật.

    Học giả Cao Xuân Hạo






    Người Việt xấu xí
    Bài 6: “SỢ” NHỮNG VẬT LẠ



    Nếu bỗng nhặt được vật thể lạ, người Việt ta sẽ về gọi mọi người cùng ra xem, sau đó cãi nhau như mổ bò mỗi người một ý, tiếp đó mỗi anh tự về bắt chước làm một cái vật na ná với cái vật lạ mà họ chưa biết gọi tên kia. Còn cái tên gọi thật, bản chất thật của cái vật đó, là việc cần biết nhất thì vẫn không ai biết...

    Đứng trước vật thể lạ, bạn nghĩ sao?

    * Khuê Văn. "Ðể tìm hiểu tính cách của các quốc gia trên trái đất, người vũ trụ mà toàn thể người trên trái đất chưa bao giờ nhìn thấy, thả một vật thể xuống giữa đường rồi ngồi trên đĩa bay chờ xem phản ứng của người trái đất ra sao nếu người đó nhặt vật thể ấy lên.

    Sau khi nhặt vật lên, nếu chăm chú nhìn vật đó từ mọi góc độ có lẽ đó là người Pháp. Ngược lại, nếu người đó nhặt lên rồi ghé vào tai lắc lắc thì đó là người Ðức. Người Pháp là dân tộc có năng khiếu hội hoạ nên họ sẽ cố gắng lý giải đồ vật dưới góc độ thị giác, còn người Ðức lại có năng khiếu âm nhạc, dân tộc đã sản sinh ra Beethoven sẽ cố gắng nhận thức vật đó bằng thính giác.

    Thế nhưng, nếu là người Tây Ban Nha, đất nước của trò đấu bò tót, khi nhặt vật đó lên, để thoả trí tò mò họ sẽ đập vỡ nó ngay chứ không xem xét bằng tai hay bằng mắt gì cả.

    Người Anh không giống với người Tây Ban Nha là hành động trước rồi mới suy nghĩ. Là người Anh, họ sẽ nhặt vật đó lên, kiên trì sử dụng nó vào việc này hay việc khác và sau khi rút ra kinh nghiệm mọi người sẽ tập trung lại rút ra kết luận đó là vật gì.

    Còn Người Trung quốc, một dân tộc già dặn và kiên nhẫn hơn người Anh rất nhiều, nên trước khi nhặt vật đó lên người ta sẽ nhìn xung quanh rất kỹ, sau khi xác định là không có ai nhìn thấy thì "người quân tử" đó nhặt nó lên thận trọng đút vào tay áo. Với anh ta, vấn đề không phải đó là cái gì mà là việc vật đó tồn tại mới quan trọng, bởi vì rồi cũng có lúc anh ta biết đó là vật gì.

    Với người Hàn Quốc, một dân tộc từng bị đói khổ trong trong thời kỳ Nhật thống trị trước kia, phản ứng trước tiên là phải thử bằng lưỡi.

    Trong cuộc thể nghiệm này tất nhiên không thể thiếu được người Mỹ và người Nga, hai đại diện của phía Tây và Ðông, có lẽ trái với sự chờ đợi của chúng ta, họ không có phản ứng gì đặc biệt, không phải đau đầu suy nghĩ!

    Vậy thái độ của người Nhật sẽ như thế nào? Với người Nhật, họ không cầm lên ngắm nghía hay lắc thử, cũng không đập vỡ hay lặng lẽ cho vào tay áo. Họ không nhờ sự trợ giúp của máy tính hay đảng phái nào bởi vì là những con người rất hiếu kỳ. Quả là như vậy, sau khi nhặt lên, người Nhật sẽ làm thử một cái giống như thế và chắc chắn không chỉ để chế tạo ra một vật hoàn toàn đúng kích thước của vật thật mà còn thu nhỏ lại một cách tinh xảo, gọn tới mức có thể cho vào lòng bàn tay. Sau đó, họ sẽ ngắm nghía một cách kỹ càng và nói: "Nasudoho!" (à, ra thế!) và vỗ đùi sung sướng.

    Bạn thử nghĩ xem, nếu người Việt chúng ta nhặt được vật đó, thái độ sẽ thế nào?"

    Tôi cảm thấy nóng gáy. Tất nhiên không chỉ để tìm ra câu trả lời về phản ứng của người Việt chúng ta. Trong các liệt kê ở đây không có người Việt, có nghĩa là chúng ta vẫn bị xem như một xứ nhược tiểu.

    Tính cách dân tộc của chúng ta không đủ mạnh cũng như tầm vóc của chúng ta chưa đủ lớn để có thể liệt kê với các dân tộc khác trên thế giới. Song, dù thế nào chúng ta cũng phải có một phản ứng trước vật thể lạ kia nếu chẳng may trên đường đi chúng ta bắt gặp chứ! Vậy thì người Việt sẽ làm gì? Ðây là suy đoán của tôi:

    Khi nhìn thấy vật đó, người Việt sẽ chạy đi tìm nhiều người khác cùng đến xem. Sau khi phỏng đoán xem vật đó là gì, một cuộc tranh cãi khủng khiếp đã diễn ra, chỉ vì không ai chịu công nhận tuyên bố của kẻ khác. Ai cũng cho rằng mình đúng. Rồi mệt mỏi, bất phân thắng bại, mỗi người về tự làm một vật giống với vật mà họ đã trông thấy theo trí tưởng tượng của riêng mình. Kết quả là có rất nhiều vật trông có vẻ giống với vật lạ mà họ thấy nhưng vật kia là gì thì họ vẫn không thể biết được. Ðối với người Việt thì "vật kia là gì?" có vẻ không quan trọng bằng việc ai đoán đúng.

    Nếu vật kia là vật chất, trên thị trường sẽ có rất nhiều hàng giả, giống như thật nhưng không dùng được. Nếu vật kia là siêu hình, một học thuyết hoặc một tư tưởng, một chủ trương nó sẽ được áp dụng rất thô bạo và sai lệch bởi vì điều quan trọng nhất: "Nó là cái gì?" thì người Việt Nam thường tỏ ra kém năng khiếu khi giải thích bản chất sự vật. Chúng ta đã có bao nhiêu bài học vì sự sai lệch này?

    Và điều mà chúng tôi vẫn muốn quan tâm là: theo bạn, người Việt Nam chúng ta sẽ làm gì?

    * Thảo Hảo. Ở nước ta, bản thân việc nhặt được vật lạ chưa phải là tốt hay xấu, mà phải đợi cho có kết luận của cơ quan chức năng sau khi xem xét mới biết là rủi hay may. Chính điều này nhiều khi làm ta lưỡng lự khi bất chợt thấy một vật lạ trên đường.

    "Có nên mang về không? Có nên hét lên cho mọi người biết là nó "lạ" không?" Ta tự hỏi. Bởi vì ta đã biết bố mẹ chúng ta hình như hơi sợ những cái gì là "lạ", họ cho rằng hệ tiêu hóa của chúng ta còn non nớt. Nếu chúng ta hét lên, họ giấu béng vào tủ, và chúng ta cũng mất luôn cả cái cơ hội gọi bạn bè đến mà thảo luận về bản chất cũng như tên gọi của cái vật lạ kia.

    Nếu bạn thường xuyên sống trong tâm trạng "không-để-bố-biết-mình-nhặt-được-vật-lạ", thì lâu dần, bạn sẽ mất thói quen ngắm nghía vật lạ ngay cả khi nó nằm hẳn trong lòng bàn tay. Trong khi con cái nhà người ta, được bố mẹ khuyến khích đi tìm cái lạ, sẽ băng rừng, vào núi, mang về những thứ lóng lánh để mà tự hào. Cũng có khi mang về, bố mẹ nó sẽ cho nó biết, vật này thường lắm, chẳng lạ đâu con, khiến nó thất vọng vứt đi, thì ít nhất cái cuộc hành trình đi tìm cái lạ của nó cũng đã là một phần thưởng.

    Thế đấy, người Việt Nam ta là con nhà lành, bố mẹ cẩn thận (có lý do). Cẩn thận dạy con tránh vật lạ ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, với những bài văn không được đi chệch lối, sách đọc tham khảo thì chỉ nên đọc tác giả này (tức là thầy) mà đừng đọc tác giả kia, không thì điểm kém. Cẩn thận tránh ngắm những triển lãm nhìn-mãi-không-hiểu-ý; tránh cho nhau đọc những từ ngữ mạnh bạo, tình tính dục gì đó - những cái có thể đề cập đến tận đáy sâu con người; Ở tầng nông, lửng lơ thôi, vì đáy sâu là đáy lạ, không ai xuống tận nơi thẩm tra được.

    Chúng ta đã được giáo dục để tránh xa cái lạ, đến mức gán cho cái lạ đến 70% là nguy hiểm. Trước những vật thể lạ, chúng ta không dại mà cầm lên ngay, dí sát vào mắt tìm tương quan thị giác như người Pháp, càng không mạo hiểm lắc lắc bên tai tìm tiếng nhạc như người Ðức, càng quyết không đập vỡ xem cái bản chất, cái tận cùng của nó là gì, như chú Tây Ban Nha...(những cái này tôi lấy ở đọan trích trong bài của Khuê Văn, chứ "lạ" thế, tự tôi không nghĩ ra.)

    Không, chúng ta không liều mạng thế. Việc trước nhất, ta phải ghi nhớ: đã lạ là nhiều phần nguy hiểm. Nên nếu thấy vật lạ, chúng ta cần rủ vài người cùng đến xem cho có nhiều kẻ cùng phạm tội. Ta đứng từ xa, và quyết không đưa ra ý kiến rõ ràng. Bởi vì, nếu ý kiến của ta hay, anh bên cạnh sẽ ăn cắp mất (và đăng trên báo khác), nếu ý kiến của ta nhỡ đâu không đúng, thế thì mất mặt ta. Mà thật ra, ta không phát biểu bởi vì ta cũng không chắc được lời ta nói ra là đúng hay là sai, là hay hay là dở. Về vật lạ, ta cần có một cơ quan thẩm định, với những nhân vật ta biết thẩm định còn dở hơn ta, họ hẹn 2h nhưng 6h vẫn chưa thấy tới. Nhưng ta phải đợi họ đến, vì không thì ai là người chịu trách nhiệm trước cái vật lạ khốn kiếp tự nhiên rơi xuống cuộc đời đều đặn và an nhàn này.

    Thế rồi ta oán vật lạ... Lạ làm gì không biết cơ chứ!
    Cơ quan thẩm định rồi cũng tới, khi tất cả đều đã mòn mỏi. Và vì họ cũng là người Việt Nam, cho nên họ cũng sẽ im lặng, vì họ cũng hoang mang như ta...

    Tất cả sẽ đợi như thế. Trăng sẽ lên. Trong ánh trăng bàng bạc mà cô độc ấy, vật thể lạ trên mặt đường tan dần, tan dần. Nó teo tóp lại, lộ rõ vẻ vô hại, bợt bạt dần đi, mang theo cả cái bí mật trong lòng, trôi đi mất cả xuất xứ.

    Và chúng ta ra về, hội đồng giám định về trước vì có xe con. Chúng ta ra về sau, lòng hơi buồn buồn, vì mãi vẫn không có ai sờ được đến vật lạ đó, ngửi tới nó, thậm chí đá vào nó một cái. Và nhất là, trong lòng ta lại tiếc rẻ, nếu biết nó không hại như thế này, thì lúc nãy mình đã liều khen một câu, rồi mang về, bán.

    Những tính cách trì níu dân tộc Việt


    Chúng ta hay thắc mắc về dân tộc mình. Tính cách nào mang lại cho dân tộc Việt Nam một sức sống mãnh liệt đến thế, để vẫn tồn tại, vẫn chiến đấu và chiến thắng mọi cuộc xâm lăng bạo tàn? Để mình vẫn là mình - Một dân tộc biết cách sống còn bên một dân tộc lớn, ngay cả trong 1000 năm Bắc thuộc...Nhưng sau những chiến công hiển hách ấy, những tính cách nào đã có "trong ta", để trở thành một lực cản, một sự níu kéo, làm ta bước khó khăn hơn trên con đường mới?

    Câu hỏi ấy đang là câu hỏi thôi thúc hôm nay. Cứ lấy bạn bè và cuộc sống xung quanh cùng bao câu chuyện kể truyền miệng làm ví dụ. Và thử đặt ra vài câu hỏi thô sơ mà hỏi nhiều người.

    Trang trải nỗi niềm của riêng mình và không chỉ của riêng mình, mà của cả một lớp trẻ còn có một chặng đường dài ở phía trước để đi lên, nên rất mong nhận lại một sự bày tỏ đầy thiện ý, dù là nghiêm khắc hay khắt khe.

    Nhược điểm thứ nhất: sự thiếu hụt đạo đức. Người Việt Nam thừa trí tuệ. Người Việt Nam cũng rất khéo tay. Nhưng nhiều người Việt Nam ngày nay không coi đạo đức là điều kiện tiên quyết của cuộc sống.

    Chúng ta có nhiều ví dụ nhỏ về việc này... Nên tôi chỉ lo rằng nếu thiếu đạo đức, người nào cũng chỉ nghĩ đến quyền lợi vật chất trước mắt của mình, không nghĩ tới người khác, không nghĩ tới gia đình, không nghĩ tới xã hội, không hiểu nổi rằng ở đời có những giá trị cao hơn tiền bạc và quyền lợi của mình nằm trong quyền lợi xã hội. Tham nhũng bắt nguồn từ đó, và kẻ tham nhũng không hiểu nổi rằng: "mình không thể hạnh phúc khi, trừ mình, mọi người đều khổ sở" (Jean Paul Satre).

    Nhược điểm thứ hai: trong kinh doanh người Việt Nam hay bắt chước nhưng thiếu sáng tạo. Thấy người khác bán phở thành công ta cũng mở hàng phở ngay bên cạnh, từ đó hình thành một phố "phở" cạnh tranh lẫn nhau rồi làm suy yếu lẫn nhau.

    Ở nhiều khu vực kinh doanh ăn uống của người Hoa, bên cạnh xe hủ tiếu là xe mì, rồi bột chiên, cháo gà, rồi sâm bổ lượng. Người Nhật đã từng bắt chước công nghệ nước ngoài, nhưng không sao chép máy móc. Nắm được bí quyết, họ liền sáng tạo, thêm tính năng, tác dụng, tiện nghi; cải tiến không ngừng để biến cái cũ thành cái mới, biến công nghệ nước ngoài thành công nghệ Nhật.

    Nhược điểm thứ ba: người Việt Nam thiếu sự trì chí trong sự nghiệp làm giàu. Ta từng nghe những nhà tư sản người Hoa khi mới sang Việt Nam chỉ có chiếc quần "xà lỏn" và gánh ve chai. Vậy mà ba chục năm sau, nhờ trì chí và cần kiệm, họ lập nên cơ nghiệp lớn.

    Ta khó tìm thấy tấm gương tương tự ở Việt Nam. Trái lại, có những điền chủ giàu "nứt đố đổ vách" nhưng chỉ biết tiêu xài phung phí từ đời cha đến đời con, dẫn đến tiêu tan sản nghiệp. Hoặc có những kẻ muốn làm giàu thật nhanh bằng phương cánh bất chính, để rồi "bạo quát, bạo tàn". Họ không biết rằng gây dựng một sản nghiệp cũng giống như trồng một vườn cây lâu năm, không thể "ăn xổi ở thì".


    Giáo sư Nguyễn Chung Tú



    Thế hệ @


    Thế hệ thanh niên Việt Nam ngày nay là thế hệ đầu tiên sau 50 năm lại thực sự được sống tuổi trẻ của mình. Một thế hệ không phải tiêu huỷ những năm tháng son trẻ trong rừng, dưới hầm hay trên bệ pháo. Một thế hệ cũng không bị cạo đầu khi để tóc dài, không bị rạch quần ống rộng, hay bị kiểm điểm khi hôn nhau. Ít nhất là ở thành phố, lần đầu tiên họ không phải mặc lại áo của mẹ hay chị, họ có son trên môi, có đồ lót mềm trên người và đủ chất đạm trong dạ dầy.




    Sống gấp - cuộc chạy đua trong thời đại @. Nhưng sẽ có cơn sóng bạc đầu nào đánh gục?

    Giống như đầu thế kỷ trước, con cháu của tầng lớp trung lưu Việt Nam lại thu xếp vali. Mỗi năm, hàng nghìn thanh niên đặt chân tới Mỹ, Úc hay Âu châu, chuyên chở trong mình sự mong đợi của bố mẹ và bản thân vào một tương lai rạng rỡ qua những mảnh bằng của những trường đại học với những cái tên đầy cám dỗ. Hương vị của thế giới văn minh xa xôi hàng tuần toả về quê hương qua Hotmail, Webcam và Yahoo Messenger.

    Sinh viên và thanh niên thành thị Việt Nam ngày nay là ai, họ nghĩ gì, ước mơ gì? Họ thiết kế cuộc sống của mình như thế nào? Cảm giác gì đặc trưng và liên kết thế hệ của họ?

    Có lẽ sự thay đổi sâu sắc nhất là thay đổi trong quan hệ giữa lớp trẻ và thế hệ ông cha mình. "The only substitute for experience is being 20". Và quả thực, chưa bao giờ tuổi trẻ lại có thể thay thế kinh nghiệm một cách đương nhiên như thế.

    Bạn có cảm giác gì nếu như phần lớn những kinh nghiệm sống của ông bà với bạn đều không còn giá trị, bởi khác với cách đây nửa thế kỷ, họ không thể hiểu được công việc bạn làm, không nói được ngôn ngữ bạn nói, và không có một tí hình dung gì về những phương trời mà bạn đã đến. Bạn có cảm giác gì nếu như hai năm sau khi tốt nghiệp đại học lương của bạn gấp mười lần lương bố bạn hay thầy giáo cũ của bạn.

    Có lẽ điều quan trọng nhất của thanh niên trong 10, 15 năm tới sẽ là xác định lại chỗ đứng của mình trong chuỗi xích thế hệ, định nghĩa lại bản chất mình trong một xã hội Khổng giáo - công nghệ - tư bản - xã hội chủ nghĩa.

    Cách đây 80 năm, Phan Khôi phê phán tầng lớp thanh niên Việt Nam có học và du học thời đó chỉ mải mê cơm áo mà không nghĩ đến câu hỏi "Làm gì để có ích cho xã hội?". Lời phê bình này dường như tới nay không mảy may mất tính thời sự.

    Tiếng Anh, tin học, quản trị kinh doanh: ba con át chủ bài này sẽ đem bạn tới phòng làm việc gắn máy lạnh của một cao ốc trong down town Hà Nội hay Sài Gòn. Và một ngày bạn sẽ chỉ nhiều nhất là hai lần nghĩ tới hay tiếp xúc với "nhân dân", một lần khi bạn đóng tiền cứu trợ lũ lụt, và một lần khi bạn dừng lại mua mít dọc đường. Kể cả trong môi trường học tập của phương Tây, dường như các sinh viên Việt Nam cũng tìm mọi cách để ở lì trong ký túc xá, bếp và thư viện. Nếu bạn đang hay đã học ở nước ngoài tôi cá rằng bạn chưa từng có một đứa bạn Việt Nam nào chơi trong dàn nhạc giao hưởng sinh viên của trường, hay tham gia câu lạc bộ chụp ảnh, hay xuống đường biểu tình chống chiến tranh, hay viết bài cho tổ chức Hoà bình xanh!!!

    Trong khi những thanh niên 20 tuổi của giảng đường sẵn sàng sống một cuộc sống rành mạch và rõ ràng của những người 50 tuổi và đã từ lâu thay ảnh của John Lennon trên tường phòng ký túc xá bằng chân dung Bill Gates thì sự nổi loạn xẩy ra vào đêm, khi những lời huấn thị của những vị tóc bạc trên TV đã tắt từ lâu.

    "Văn hoá tốc độ" là vũ khí của những tay đua đêm, trong đầu đầy thuốc lắc, và đằng sau là bạn gái tóc nhuộm hung áo thun tụt trần tới thắt lưng. Họ là những đại diện đầu tiên của "con người hưởng thụ" ở Việt Nam, những người đầu tiên có sự tự chủ với đầu tóc, quần áo, thân thể và cuộc sống tình dục của mình. Họ có một đống thời gian, không ít tiền và những hình dung không rõ ràng cho tương lai. Chính trị và các đề tài xã hội đối với họ cũng lạ lẫm như phía bên kia của mặt trăng, và thế giới vẫn yên ổn chừng nào ông bố vẫn tiếp tục khuân tiền về nhà.

    Trớ trêu thay, sự nổi loạn của họ không có mảy may có hy vọng. Bởi trên thực tế, "sống gấp" đã trở thành một cuộc chạy đua của hai thế hệ đang cùng say sưa trong giấc mơ tiêu thụ. Party on! Lần đầu tiên hai thế hệ cùng hội hè. Sau những năm dài đói khát, những bậc phụ huynh đang săn tìm lại tuổi trẻ của mình. Những ông bố kín lịch với tennis, bồ nhí và bàn nhậu. Những bà mẹ bận rộn với trang trại, Osin thứ hai và du lịch Bắc Kinh. Tầng trên hát Karaoke, tầng dưới nhảy Disco. Chưa khi nào nào mà thanh thiếu niên sinh hoạt một mình nhiều như ngày nay. Xe @, giầy Nike, điện thoại Nokia, chúng chỉ là những bấu víu chống lại sự cô đơn trong một thế giới đang mất dần đi sự ấm áp.

    Phải chăng Thế hệ @ là sự cộng hưởng của Thế hệ Thực dụng, Thế hệ Thờ ơ và Thế hệ Bạo lực? Những thanh niên hoặc ngã xuống mặt đường nhựa đêm để tìm cảm giác, hoặc ngã xuống ghế làm marketing manager của một công ty nước ngoài cho một cuộc sống đẹp như trong quảng cáo. Chúng ta có bao nhiêu hy vọng rằng giới trẻ hôm nay sẽ làm Việt Nam trở thành một chốn tốt đẹp hơn để sống? Chúng ta có bao nhiêu hy vọng rằng sẽ có thể nghe những giọng nói của chính giới trẻ trên diễn đàn này?

    Mai Chi


    Thế hệ tôi ơi!

    Những người trẻ tuổi chúng tôi hầu hết sinh ngay trước hoặc ngay sau chiến tranh, có một phần hoặc toàn bộ tuổi thơ nằm ở thời kỳ bao cấp và chứng kiến khá đầy đủ những năm đất nước chuyển mình sang thời kỳ mở cửa. Việc chứng kiến những biến động có ý nghĩa này ảnh hưởng mạnh đến ý thức chúng tôi về mối quan hệ cá nhân – xã hội, về những cơ hội - thách thức của bản thân. Và điều đó tạo nên một thế hệ mới: Thế hệ tôi - Thế hệ chúng ta.

    Một thế hệ sốt ruột một chút

    Đừng hỏi Tổ Quốc đã làm gì cho ta...

    Họ sốt ruột muốn khẳng định mình; sốt ruột muốn thử các cơ hội và thách thức; sốt ruột thám hiểm, tìm kiếm các con đường mới trong kinh doanh, học thuật; sốt ruột với sự khác biệt và các giá trị phá cách.

    Sự sốt ruột này là kết dễ thấy của một xã hội chuyển mình khi các giá trị đang được sắp xếp lại trật tự. Những tấm gương kinh doanh thành công của lớp đàn anh đi trước một chút như Trương Gia Bình, Trương Đình Anh, Thái Tuấn Chí… cũng như những tấm gương thành công trong lĩnh vực học thuật, xã hội như của các nhà văn thế hệ đàn anh đàn chị, những ca sĩ, nghệ sĩ, các nhà khoa học trẻ… làm cho họ choáng ngợp trong cảm giác thành công rất có thể đến một sớm một chiều.

    Ở góc độ tiêu cực, sự sốt ruột tìm kiếm “cách tân” của lớp trẻ đẻ ra nhiều người trẻ tuổi cách tân về bề nổi, tụt hậu về bản chất. Họ trông đợi một sự thần kỳ đến sau đêm Noel, mở mắt ra đã thấy trước mặt một chiếc @ làm quà từ cha mẹ.

    Ở một khía cạnh khác, ta bắt gặp những thử nghiệm nghiêm túc cả về kinh doanh lẫn sáng tạo nghệ thuật của rất nhiều tên tuổi trẻ.

    Trên cả hai cực của cú hích “sốt ruột”, chúng ta đều có những gặt hái và cả những thất thu nặng nề.

    Một thế hệ khát khao rất nhiều

    Khát khao dễ thấy nhất của thế hệ ngày nay là khao khát một cuộc sống có ánh sáng của tri thức thật sự và có sự đầy đủ tiện nghi vật chất. Trên bề nổi, khao khát này có vẻ như là một khao khát “cũ”, đúng với mọi thời đại. Kỳ thực, nó có những đặc điểm riêng trong lớp thanh niên Việt Nam ngày nay.

    Họ khao khát kiến thức vì kiến thức trong nhà trường không làm họ thoả mãn, nhất là kiến thức có thể sử dụng được. Khao khát này đến từ sự thiếu hụt chuyên môn sâu, thiếu hụt kiến thức xã hội và nhất là thiếu hụt công cụ tổng quát để xử lý cuộc sống – đó là tư duy logic, tư duy phê phán và tư duy độc lập.

    Song song với sự khao khát tri thức, một điều dễ nhận thấy là thế hệ trẻ ngày nay mong muốn được làm giàu, khao khát được có các tiện nghi của một đời sống thịnh vượng, văn minh; thậm chí ở một góc độ nào đó, có thể nói là họ căm ghét sự nghèo đói. Cũng chính vì khao khát làm giàu mà nhiều bạn trẻ chấp nhận làm bất cứ điều gì để có tiền, kể cả những điều trái với đạo đức. Nhưng cũng có rất nhiều bạn trẻ đang vươn lên, vừa nỗ lực gây dựng cho bản thân, vừa tham gia tạo lập một môi trường kinh doanh chuyên nghiệp hơn.

    Một thế hệ “đầu lạnh, tim nóng”

    Quả thật, nói về thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay là nói về một thế hệ khác trong tương quan với thế hệ cha anh đi trước. Họ tư duy và xử lý quan hệ xã hội của họ theo một phong cách xin được tạm gọi là “đầu lạnh, tim nóng”; nghĩa là họ sử dụng lý trí rất nhiều; có xu hướng xử lý các quan hệ xã hội trên tiêu chí hợp lý và logic cá nhân nhiều hơn là các tiêu chí bất thành văn như quan hệ xã giao, tình cảm hoặc các tiêu chí tập thể. Họ đơn giản hoá và tước bỏ rất nhiều các quy tắc xã hội vốn được quy định trong văn hoá Việt Nam.
    Dĩ nhiên là biểu hiện “đầu lạnh, tim nóng” này có cả hai mặt tích cực và tiêu cực tuỳ thuộc từng nhóm người. Trong tương lai, đặc điểm này có lẽ sẽ làm thay đổi rất nhiều quan điểm về các quan hệ xã hội. Ví như nó có thể góp phần tạo dựng văn hoá lao động, văn hoá kinh doanh nhưng lại có thể phá vỡ nhiều quan điểm truyền thống về đạo đức và ứng xử của người Việt.


    Thế hệ tôi - thế hệ chúng ta, thế hệ sốt ruột một chút, khao khát rất nhiều; nhưng là sốt ruột và khao khát được lao động và chuyển mình tới một tương lai tươi sáng hơn nữa cho tất cả chúng ta và cho Tổ Quốc Việt Nam thân yêu.

    Xin chào các bạn, thế hệ những người đang vươn vai đứng lên của Việt Nam!

    Nguyễn Ngọc Hường

    (Tinyhuong, thành viên TFG, mạng TTVN)

Chia sẻ trang này