1. THÔNG BÁO TUYỂN ADMIN DIỄN ĐÀN 2013
    Tìm kiếm nhà trọ - Ở ghép
    THÔNG BÁO BÁN ÁO SPKT.NET CHO THÀNH VIÊN DIỄN ĐÀN


    HÃY TÌM KIẾM Ở ĐÂY TRƯỚC KHI ĐẶT CÂU HỎI
    {xen:phrase loading}

Những câu chuyện về ô tô và lý thuyết kinh tế

Thảo luận trong 'Tin mới Ô Tô - Xe Máy' bắt đầu bởi hongthai1986vn, 28 Tháng hai 2007.

  1. hongthai1986vn Member

    Số bài viết: 188
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 16
    <span style="color:#3333FF">Những câu chuyện về ô tô và lý thuyết kinh tế

    [IMG]

    (Dân trí) - Mang lại lợi nhuận khổng lồ, đương nhiên công nghiệp ô tô cũng là đối tượng nghiên cứu của kinh tế học. Nhưng có một điều ít ai biết là những chiếc ô tô cũng đóng góp cho lý thuyết kinh tế kha khá những ví dụ hay, thậm chí mở đầu cho nhiều nhánh nghiên cứu mới. Đầu năm thử lai rai một chút cho vui.


    Câu chuyện về những “quả chanh” và thị trường ô tô cũ

    Câu chuyện về ô tô nổi tiếng nhất trong kinh tế học có lẽ là câu chuyện về thị trường ô tô cũ.


    Năm 2001, giải Nobel kinh tế được trao cho Arkelof, với hạt nhân là luận văn kinh điển – “The market for lemons” – thị trường của những “quả chanh”. Ấy nhưng cái loại hàng hóa được nhắc đến trong luận văn này không phải là về chanh mà lại về ôtô. Nguyên do là ở chỗ, tiếng lóng của người Mỹ gọi những chiếc xe cũ nát thổ tả là quả chanh (lemon). Và cái thị trường mà luận văn nói đến thực chất là thị trường xe cũ.




    [IMG]

    Thông tin người bán và người mua có

    không giống nhau, gọi là tình trạng

    bất đối xứng thông tin.

    Người bán xe cũ nói chung biết rõ xe của mình tốt xấu ra sao, còn người mua xe thì không. Người ta gọi đó là tình trạng thông tin bất đối xứng.



    Cho nên, nếu người mua xe biết giá trị chiếc xe cũ với những thông số như nhãn hiệu, năm sản xuất .v.v. như vậy có giá tối đa là, chẳng hạn 10.000$, tối thiểu là cho cũng không đắt, thì biết rằng giá trị cái xe mình định mua nằm giữa 0 và 10.000$.



    Nếu không chắc được giá trị chiếc xe nằm ở khoảng nào, để giảm bớt rủi ro, người mua xe sẽ áng chừng nó ở mức trung bình, chẳng hạn 5.000$.



    Nhưng nếu người mua nào cũng đánh giá như vậy, chỉ vì họ không nắm rõ thông tin, thì những người bán xe cũ sẽ có xu hướng loại khỏi thị trường những chiếc xe có giá trên 5.000$.



    Còn lại trong thị trường chỉ là những xe có giá trị từ 5.000$ trở xuống. Nhưng người mua xe cuối cùng cũng sẽ nhận ra điều đó, và họ biết trong thị trường bây giờ chiếc xe tốt nhất, có giá trị tối đa chỉ là 5.000$.



    Như vậy thì, vì vẫn không biết giá trị từng cái xe một, họ cứ trả giá trung bình là một nửa giá đó, nghĩa là 2.500$. Trước cảnh đó, những người có xe cũ giá trị cao hơn 2.500$ sẽ rút lui, để lại trong thị trường chỉ còn những chiếc xe trị giá từ 2.500$ trở xuống thôi.

    [IMG]


    Những "quả chanh" trong thị trường ô tô gây bất bình đến mức ở nhiều bang của Mỹ, như bang California, có hẳn một luật là Lemon Law để bảo vệ quyền lợi của những người mua phải chiếc xe quá "thổ tả".


    Cứ tiếp tục như thế, sau cùng sẽ không còn thị trường bán xe cũ nữa vì chỉ còn những chiếc xe tệ hại nhất mà người ta gọi là những "quả chanh".



    Câu chuyện trên của Arkelof cho thấy tình trạng bất đối xứng thông tin giữa người mua và người bán làm thị trường suy thoái thế nào. Nó đã mở ra cả một ngành mới trong kinh tế học gọi là kinh tế thông tin và áp dụng giải quyết được vô khối vấn đề thực tế.



    Chẳng hạn bạn sẽ hiểu được tại sao một đôi giày không nhãn mác sẽ rẻ hơn rất nhiều lần một đôi giày “hàng hiệu” cho dù kiểu dáng có thể đẹp hơn và chất lượng nhìn qua khó có thể biết đôi nào tốt hơn đôi nào. Cái giá thấp hơn đó chính là bù cho việc thông tin mang lại cho người dùng ít hơn.

    Đó cũng là lý do các doanh nhân thường rất thích bỏ tiền mua những chiếc ô tô thật sang trọng. Cũng là một cách “đánh tín hiệu” – cung cấp thêm thông tin đến đối tác về đẳng cấp hay khả năng tài chính của doanh nghiệp mình.

    Dây an toàn và tính không thể đoán trước của chính sách

    Trong cuốn Kinh tế học nổi tiếng của mình, nhà kinh tế học Paul Samuelson có một câu chuyện kinh điển dẫn chứng cho tính khó lường trước được của chính sách. Nhận thấy tình trạng những người đi xe ô tô bị tử vong rất nhiều vì đập mặt vào phía trước do không thắt dây an toàn, chính quyền ra một quy định bắt buộc những người lái xe phải thắt dây an toàn với hy vọng làm giảm số người chết.

    Nhưng sau một thời gian thực hiện quy định này, thì kết quả thật bất ngờ khi con số thống kê cho thấy số lượng tử vong có chiều hướng tăng nhẹ. Giải thích kết quả này ra sao?

    [IMG]


    Quy định về thắt dây an toàn làm giảm tỉ lệ tử vong nhưng tăng số vụ tai nạn.

    Một cuộc điều tra cho thấy nguyên nhân chính là do khi bắt buộc phải thắt dây an toàn, những người lái xe vì vậy lại trở nên chủ quan hơn khi lái xe, nên số vụ tai nạn xảy ra nhiều hơn.

    Quy định thắt dây an toàn trên thực tế đã có hiệu lực. Nó làm tỉ lệ tử vong trong các vụ tai nạn giảm. Nhưng vì số vụ tai nạn tăng lên, nên số người tử vong trên thực tế là không giảm.

    Câu chuyện trên cho thấy tính khó lường trước của các chính sách. Do vậy khi đưa ra một chính sách cũng như nhận xét về tác động của một chính sách, những người đưa ra ý kiến cần rất thận trọng và nhìn nhận vấn đề dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

    Chẳng hạn như chuyện đánh thuế nặng lên những chiếc xe đắt. Nhiều người phản đối, nhiều ý kiến chỉ trích cho rằng, điều này làm những chiếc xe đắt càng trở nên đắt hơn. Và như vậy thì những người có mức thu nhập bình thường rất khó có cơ hội mua được những chiếc xe tốt. Tuy nhiên khi phân tích kỹ ra thì thực tế không hoàn toàn như vậy.
    Với những chiếc xe thuộc nhóm chịu thuế nặng, nhưng có mức giá gần với mức chịu thuế thấp hơn, thì trong thực tế, nhà sản xuất có xu hướng hạ giá xe xuống để chịu mức thuế thấp hơn. Cho dù khi đó lợi nhuận thu trên mỗi chiếc xe giảm, nhưng mức cầu nhờ vậy lại tăng. Trong khi nếu giữ nguyên mức giá cũ, thì do giá chiếc xe vọt lên, nên lượng cầu với những chiếc xe loại này sẽ giảm, trong khi những nhà sản xuất lại không được hưởng gì từ phần giá tăng thêm do thuế này, do phải nộp lại cho nhà nước.

    Những người mua xăng lười nhác và mô hình Hotelling

    Có một ví dụ về mô hình hoạt động của thị trường đơn giản mà rất thú vị do nhà kinh tế học Hotelling đề xuất.

    Trên một khu phố dài, có hai trạm bán xăng ở hai đầu, ta gọi là trạm xăng Trái và Phải. Và những người đi ô tô trong khu phố đều mua xăng theo nguyên tắc "lười nhác", nghĩa là đi đến trạm bán xăng gần mình nhất.
    Như vậy lúc đầu lượng người mua xăng sẽ tương đối đồng đều cho hai trạm bán xăng. Nhưng nói chung những anh chàng chủ trạm xăng sẽ có xu hướng dịch trạm xăng của mình vào giữa khu phố.

    Tại sao lại vậy? Rất dễ hiểu. Những chiếc xe đang hoạt động giữa hai trạm xăng sẽ chia đôi cơ hội cho cả hai trạm xăng này, phụ thuộc vào khoảng cách từ nó đến trạm xăng nào gần hơn.

    Còn những chiếc xe ô tô không ở giữa hai trạm xăng đương nhiên sẽ chỉ có một lựa chọn duy nhất. Những chiếc xe nằm ở phía trái sẽ đến trạm xăng Trái, và những chiếc xe nằm ở phía phải sẽ đến trạm xăng Phải.
    Và do cả hai anh chàng chủ trạm xăng đều muốn tối đa hóa cái khoảng của riêng mình, nên cuối cùng kết cục dẫn đến là cả hai trạm xăng sẽ chập vào một chỗ ở trung tâm khu phố - nơi sẽ phải cạnh tranh nhiều nhất và có lẽ cũng bất hợp lý nhất.

    [IMG]

    Hai anh chàng bán xăng cuối cùng sẽ đẩy cây xăng của mình chập vào một chỗ.

    Ví dụ trên của Hotelling được đưa ra như một mô hình cho thấy không phải lúc nào thị trường cũng vận hành theo cách hiệu quả nhất, như những nhà kinh tế học chính thống vẫn hằng tin tưởng.



    T.T.V
    </span>
  2. bmnhy Giảng Viên

    Số bài viết: 914
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    -Hai anh chàng bán xăng cuối cùng sẽ đẩy cây xăng của mình chập vào một chỗ.


    - Đó cũng là lý do các doanh nhân thường rất thích bỏ tiền mua những chiếc ô tô thật sang trọng. Cũng là một cách “đánh tín hiệu” – cung cấp thêm thông tin đến đối tác về đẳng cấp hay khả năng tài chính của doanh nghiệp mình.

    ====================

    Bài viết khá thú vị! thank hongthai

    Có những điều khi phân tích cũng thấy được sự trùng hợp đáng lưu tâm và suy nghĩ!
  3. bmnhy Giảng Viên

    Số bài viết: 914
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Toyota trở thành nhà sản xuất lớn nhất thế giới

    Doanh số toàn cầu quý I của Toyota đã vượt qua kỳ phùng địch thủ General Motors, hãng xe đã giữ vị trí quán quân thế giới trong hơn 80 năm qua.

    Theo số liệu công bố ngày 24/4, sau 3 tháng đầu năm, Toyota bán tổng cộng 2,348 triệu xe trong khi người khổng lồ General Motors chỉ đạt con số 2,26 triệu chiếc. Nếu tính theo sản lượng, quý I năm nay Toyota sản xuất 2,367 triệu xe, tăng 2,6% trong khi GM chỉ có 2,335 triệu chiếc.

    Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, Toyota có doanh số quý vượt qua đại kình địch của mình.

    xem thêm:

    Dù mới là kết quả kinh doanh quý I nhưng nó báo hiệu một cuộc chiến dai dẳng giữa GM và Toyota nhằm xác định ai là kẻ thống trị thế giới. Trong năm 2006, doanh số toàn cầu của Toyota tăng 10%, lên 9,018 triệu xe, trong khi GM đạt 9,18 triệu chiếc. Khoảng cách chỉ là 162.000 chiếc, một con số quá nhỏ so với tiềm lực Toyota.

    *Bí quyết thành công của Toyota
    *Toyota gặp khó tại Trung Quốc
    Hơn 10 năm trở lại đây, Toyota ngày càng thu hẹp khoảng cách mà GM tạo ra trong hơn 70 năm. Trong khi Toyota bán ngày càng nhiều xe thì GM rơi vào khủng hoảng. Vì thế, các nhà phân tích cho rằng chuyện Toyota vượt qua GM chỉ là vấn đề thời gian, cho dù hãng này đang dẫn đầu ở thị trường lớn thứ hai thế giới là Trung Quốc.
    [IMG]
    Camry 2007, mẫu xe thành công nhất trong năm qua của Toyota.

    Suốt cả năm 2006, GM đau đầu đàm phán với nghiệp đoàn để đóng cửa nhà máy, cắt giảm lương và việc làm nhằm hạ chi phí. Hãng phụ trợ Delphi phá sản năm 2006 cũng cướp đi của GM nhiều sức lực. Giữa lúc đó, Toyota liên tiếp mở thêm nhà máy, hết ở Ấn Độ, Canada và ngay ở Mỹ. Theo đánh giá, các mẫu tiết kiệm xăng như Corolla, Camry hay chiếc hybrid là con bài chiến lược của Toyota.

    Riêng tại thị trường Mỹ, Toyota tăng 12,9% trong 2006, vượt qua DaimlerChrysler để vươn lên vị trí thứ 3, nằm trong nhóm "3 ông lớn" mà người dân ở đây vẫn gọi. Thậm chí, trong bản kế hoạch toàn cầu rò rỉ cho giới truyền thông năm ngoái, Toyota đặt ra mục tiêu chiếm 15% thị phần toàn cầu vào 2010 và đánh đổ GM để trở thành hãng xe lớn nhất hành tinh.

    Nguyễn Nghĩa (theo AP)
  4. bmnhy Giảng Viên

    Số bài viết: 914
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Thượng Hải - thế lực mới trong ngành ôtô

    Triển lãm ôtô Thượng Hải đang là tâm điểm của giới truyền thông khi có tới 1.300 công ty quần tụ ở đây và ngay trong ngày đầu tiên, 100.000 khách đã tới tham quan.

    Các hãng thông tấn lớn dành sự quan tâm đặc biệt tới Thượng Hải, nơi đang diễn ra triển lãm ôtô mà trước kia được coi là hết sức bình thường. Nhìn sang Hàn Quốc, dù lâu đời hơn nhưng rõ ràng triển lãm Seoul đang mất dần sự quan tâm. Nếu không có sự kiện các hãng xe đồng loạt tuyên bố cắt giảm người đẹp, chưa chắc Seoul Motorshow đã được nhiều người biết tới.

    Trong khi đó, Thượng Hải như có ma lực khiến các ông lớn thế giới đua nhau "ve vãn". Nếu xét về khía cạnh tin tức, nó không thua kém 5 triển lãm hàng đầu thế giới là Detroit, Paris, Frankfurt, Geneva và Tokyo khi mà hàng loạt bài phân tích, nhận định đề cập đến sự kiện này. Người phát ngôn của DaimlerChrysler còn tuyên bố Thượng Hải được xếp vào hạng A-class, cùng với những tên tuổi như Tokyo hoặc Geneva. Các con số thống kê phần nào chứng minh cho nhận định này. Riêng trong ngày khai mạc, đã có hơn 100.000 khách đến từ 92 quốc gia tới tham quan. Hơn 1.000 công ty, gồm cả các hãng phụ trợ có sản phẩm trưng bày và 100 chiếc xe nhập khẩu khoe sắc ở đây.

    Diễn ra trong 7 ngày, từ 20 đến 27/4, nhiều tên tuổi cỡ bự chọn Thượng Hải là nơi trình làng xe mới. BMW, nhà sản xuất hạng sang vốn rất kỹ tính đã không ngần ngại tung ra chiếc concept CS và tuyên bố đây chính là tương lai của mình. Không ngẫu nhiên mà BMW lại "chiếu cố" đến thành phố này. Tất cả bắt nguồn từ mục tiêu nhảy vào thị trường xe sang dành cho quan chức mà đối thủ của BMW, Audi đang nắm giữ.

    Chỉ trong vòng 5 năm, BMW tăng trưởng 750% tại Trung Quốc và mục tiêu mới của hãng này 150.000 xe vào 2008. CS có những đường nét đặc trưng và dài hơn cả chiếc serie 7, mẫu xe lớn nhất hiện nay của BMW. Việc tung CS tại Thượng Hải sẽ giúp BMW đong đếm sự quan tâm, xác định thị hiếu của khách hàng Trung Quốc trong vài năm tới. Có thể CS sẽ không thành hiện thực nhưng nó phần nào ảnh hưởng tới kế hoạch sản phẩm của nhà sản xuất này tại Trung Quốc.

    Audi không phải đối thủ "xoàng" khi quyết định mang tới Thượng Hải chiếc concept mới nhất của mình, Cross Coupe quattro. Về kích thước, Cross Coupe là đối thủ của BMW X3, Acura RDX. Dù mới chỉ dừng lại ở xe ý tưởng (concept) nhưng Cross Coupe rất có thể sẽ trở thành chiếc Q5 mà Audi dự định ra mắt vào 2008. Mục đích của Audi khi giới thiệu Cross Coupe cũng giống như BMW, tức tìm cách thử lửa người tiêu dùng để nắm vững thị phần ở đất nước đông dân nhất thế giới.

    [IMG]
    Mẫu xe chạy điện E-Flex của GM. Ảnh: Forbes.
    Không chỉ có những sedan, coupe, convertible hay các mẫu hạng sang, công suất lớn và tiêu hao nhiều nhiên liệu, Thượng Hải còn là nơi hội tụ xe sạch, xe xanh đến từ khắp nơi trên thế giới. Dường như chủ đề "hướng tới môi trường" đang là mốt của các hãng xe nên mới mẻ như Thượng Hải cũng không thoát khỏi. Theo thống kê, ít nhất có khoảng 30 mẫu xe sạch, chạy đủ các kiểu nhiên liệu từ hybrid tới biodiesel, ethanol, điện.

    Nếu các hãng lớn như Chevrolet trưng bày mẫu xe chạy điện Volt hay Ford có Escape hybrid thì các hãng ôtô nội địa Trung Quốc cũng chẳng kém cạnh. Hãng xe ở tỉnh An Huy, Chery mang tới 3 chiếc xe concept thân thiện với môi trường và 5 mẫu hybrid. Nhà sản xuất ôtô Thượng Hải SAIC thì có chiếc Roewe hybrid và hào phóng tuyên bố chi 12 triệu USD để nghiên cứu pin nhiên liệu.

    [IMG]
    Chiếc hybrid LS600h của Lexus. Ảnh: AP.

    Phó chủ tịch của hãng xe nội địa lớn nhất Trung Quốc Chery, ông Qin Lihong ví von: "Ngành công nghiệp ôtô giống như dòng chảy. Nếu bạn không di chuyển cùng nó, nó sẽ vượt qua bạn". Thậm chí, ông còn tự tin: "Nếu các hãng lớn đang dẫn đầu trên phương diện nhiên liệu truyền thống thì với công nghệ năng lượng mới, chúng tôi và họ có cùng điểm xuất phát".

    Với sự lớn mạnh của các hãng trong nước, cùng thị trường như một miếng mồi ngon, Thượng Hải nói riêng và Trung Quốc nói chung đang trở thành thế lực mới trong làng công nghiệp ôtô. Rất có thể một ngày nào đó, Thượng Hải sẽ vượt qua cả Detroit, Frankfurt hay Geneva, bởi thành phố này hứa hẹn nhiều lợi nhuận, nhiều sự sáng tạo và cạnh tranh.

    Trọng Nghiệp tổng hợp
  5. bmnhy Giảng Viên

    Số bài viết: 914
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    VINAMOTOR "đại gia" ngành công nghiệp ô tô Việt Nam



    5 năm (2001-2005) triển khai chương trình sản xuất lắp ráp ôtô bằng 100% nguồn vốn trong nước, VINAMOTOR không chỉ đạt tốc độ tăng trưởng cao (45%/năm) mà còn xây dựng được cơ sở vật chất ban đầu, tạo tiền đề cho ngành Công nghiệp ô tô Việt Nam hội nhập - phát triển




    .

    Lựa chọn đối tác, sản phẩm và dự án đầu tư:

    Ông Nguyễn Văn Khoa, Tổng Giám đốc VINAMOTOR cho biết: Trước năm 2000, các nhà máy của TCT hầu hết là nhà máy cơ khí sửa chữa ô tô, máy thi công công trình giao thông và sản xuất một số phụ tùng thay thế. Năm 2000, mặc dù chiến lược và quy hoạch phát triển ngành Công nghiệp ô tô chưa được phê duyệt, VINAMOTOR đã chủ động nghiên cứu thị trường, tìm hiểu đối tác, lựa chọn sản phẩm phù hợp và mạnh dạn đầu tư sản xuất lắp ráp ôtô bằng nguồn vốn trong nước. TCT quyết định chọn hãng ôtô Huyndai (Hàn Quốc) và Tập đoàn ôtô số 1 Trung Quốc để hợp tác chuyển giao công nghệ sản xuất ôtô buýt, ôtô tải nhẹ... Các dự án đầu tư sản xuất lắp ráp ô tô giai đoạn này gồm: Cụm CN ô tô Nguyên Khê- Đông Anh, Cụm CN ô tô Thủ Đức- TP Hồ Chí Minh, Cụm CN ô tô Đồng Vàng- Bắc Giang, Cụm CN ô tô Văn Lâm- Hưng Yên, một số dự án sản xuất phụ tùng, phụ kiện ô tô và nhà máy sản xuất xe khách, xe tải tại Nghệ an, Cần Thơ, Huế, Nam Định, Hà Tây... Tổng mức đầu tư cho các dự án khoảng 3.000 tỉ đồng (200 triệu USD), số vốn tuy không lớn, nhưng so với mức đầu tư cho lĩnh vực cơ khí trước đây thì chương trình này có mức đầu tư đột phá.

    Hiệu quả đầu tư:

    Chương trình đầu tư sản xuất ô tô 5 năm qua của VINAMOTOR đã phát huy hiệu quả kinh tế- xã hội rõ rệt. 5 năm, sản lượng ô tô tiêu thụ của TCT đạt 30.000 chiếc. Riêng năm 2004 bán ra gần 10.000 xe và năm 2005 dự kiến là 15.000-17.000 xe các loại. Sản phẩm xe khách thương hiệu TRANSINCO hiện chiếm lĩnh 90%, xe tải nhẹ chiếm 30% thị trường trong nước. Dự án đầu tư xe khách trên 24 chỗ ngồi của Công ty ô tô 1/5, sau 5 năm tiêu thụ gần 10.000 chiếc, nâng giá trị sản lượng của Công ty từ 100 tỉ đồng (năm 2001) lên 1000 tỉ đồng (năm 2004). Dự án sản xuất xe khách tại công ty TRACOMECO đã nâng sản lượng của Công ty tăng gấp 10 lần. Dự án sản xuất xe Huynddai- Vinamotor có lãi ngay từ năm đầu đi vào sản xuất. Các dự án sản xuất phụ tùng, phụ kiện ô tô của TCT đã làm thức dậy nhiều nhà máy, cơ sở sản xuất cơ khí của TCT như nhíp ô tô của Công ty 19/8, bạc ô tô Ngô Gia Tự, gioăng kính ôtô Đại Mỗ, composite và ghế đệm của Nguyên Khê, cánh cửa xe buýt 3/2, khung xe, thùng xe của 120, 30/4, Tracomeco... Chương trình đầu tư này đã tạo thêm việc làm cho gần chục nghìn lao động của TCT với mức thu nhập bình quân 1,8 triệu đ/người/tháng. Ngoài ra, còn hàng chục ngàn lao động ngoài xã hội tham gia tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ sau bán hàng, cung cấp vật tư linh kiện. Từ chương trình này, đội ngũ CNCNV của VINAMOTOR đã trưởng thành từ khâu lập dự án, thiết kế, xây dựng nhà xưởng, lựa chọn chuyển giao công nghệ, tiếp thu công nghệ mới, quản lý, điều hành sản xuất. Tuy nhiên, một số dự án trong chương trình đầu tư còn bị kéo dài như Cụm CN Nguyên Khê- Đông Anh, Nhà máy ô tô Cần Thơ... Các dự án sản xuất phụ kiện, phụ tùng chưa triển khai mạnh, nhất là đầu tư chế tạo các bộ phận quan trọng của ô tô như động cơ, hộp số, hệ thống truyền động, tỉ lệ nội địa hóa sản phẩm của TCT còn hạn chế. Khâu đào tạo nguồn nhân lực chưa tương xứng với yêu cầu phát triển doanh nghiệp.

    Từ bài học kinh nghiệm sau 5 năm tạo bước đột phá trong đầu tư sản xuất ôtô, VINAMOTOR đang triển khai chương tình đầu tư phát triển Công nghiệp ô tô đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, xứng dáng là một “đại gia” trong ngành Công nghiệp ô tô Việt Nam khi hội nhập- phát triển./.

Chia sẻ trang này