1. THÔNG BÁO TUYỂN ADMIN DIỄN ĐÀN 2013
    Tìm kiếm nhà trọ - Ở ghép
    THÔNG BÁO BÁN ÁO SPKT.NET CHO THÀNH VIÊN DIỄN ĐÀN


    HÃY TÌM KIẾM Ở ĐÂY TRƯỚC KHI ĐẶT CÂU HỎI
    {xen:phrase loading}

Thông tin Biển đảo Việt Nam

Thảo luận trong 'Sự kiên - Danh nhân' bắt đầu bởi Action, 20 Tháng mười hai 2007.

  1. Action New Member

    Số bài viết: 766
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Hiện nay trong giới học sinh - sinh viên và thanh niên đang có thông tin chuyển cho nhau từ các tin nhắn từ YM và chẳng ai biết nó từ đâu đến, có điều những lời lôi kéo các bạn tụ tập làm mâtý an ninh trật tự của nhà nước. Có thể do các bạn chưa nắm được nguồn thông tin chính thống, làm cho kẻ xấu lợi dụng làm ảnh hưởng đến an ninh của nước nhà. Hãy đọc những thông tin này. Có thể bạn bị sốc vì không biết về điều này, nhưng bạn hãy tin rằng nhưnghx nhà lãnh đạo của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vẫn đang ngày đêm băn khoăn trăn trở và không ngừng đấu tranh trên bàn đàm phán với các nhà lãnh đạo của Trung Quốc từ mấy chục năm nay về mảnh đất rột thịt Hoàng Sa, Trường Sa của chúng ta, chứ không phải bây giờ mới nói. Đừng vì thiếu hiểu biết mà bị lôi kéo bởi kẻ xấu nhé những người bạn của tôi. Tôi đã sưu tầm được thông tin về Biển Đảo Việt Nam từ trang web của UB Hội Liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam Tp.HCM: http://www.lendang.com.vn , mạn phép coppy lại chia sẻ với các bạn:



    Biển đảo Việt Nam

    1.Khái quát về biển đảo nước ta

    Nước ta giáp với biển Đông ở hai phía Đông và Nam. Vùng biển Việt Nam là một phần biển Đông.
    [IMG]

    - Bờ biển dài 3.260km, từ Quảng Ninh đến Kiên Giang. Như vậy cứ l00 km2 thì có l km bờ biển (trung bình của thế giới là 600km2 đất liền/1km bờ biển).

    - Biển có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với diện tích trên 1 triệu km (gấp 3 diện tích đất liền: l triệu km2/330.000km2).

    - Trong đó có 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và 2.577 đảo lớn, nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển.

    - Có vị trí chiến lược quan trọng: nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, châu Á với châu Âu, châu Úc với Trung Đông. Giao lưu quốc tế thuận lợi, phát triển ngành biển.
    - Có khí hậu biển là vùng nhiệt đới tạo điều kiện cho sinh vật biển phát triển, tồn tại tốt.

    - Có tài nguyên sinh vật và khoáng sản phong phú, đa dạng, quý hiếm.

    * Vùng biển và hải đảo nước ta có vị trí chiến lược hết sức to lớn, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, có liên quan trực tiếp đến sự phồn vinh của đất nước, đến văn minh và hạnh phúc của nhân dân.

    2. Tiềm năng và tầm quan trọng của biển

    + Về kinh tế.

    - Hải sản: Ở vùng biển nước ta đến nay có khoảng 2.040 loài cá gồm nhiều bộ, họ khác nhau, trong đó có giá trị kinh tế cao khoảng 110 loài. Trữ lượng cá ở vùng biển nước ta khoảng 3 triệu tấn/năm.

    - Chim biển: Các loại chim biển ở nước ta cũng rất phong phú: hải âu, bồ nông, chim rẽ, hải yến. Theo tính toán của các nhà khoa học phân chim tích tụ từ lâu đời trên các đảo cho trữ lượng phân bón tới chục triệu tấn.

    - Rong biển: Trên biển nước ta có trên 600 loài rong biển là nguồn thức ăn có dinh dưỡng cao và là nguồn dược liệu phong phú.

    - Khoáng sản: Dưới đáy biển nước ta có nhiều khoáng sản quý như: thiếc, ti tan, đi-ri-con, thạch anh, nhôm, sắt, măng gan, đồng, kền và các loại đất hiếm. Muối ăn chứa trong nước biển bình quân 3.500gr/m2.

    - Dầu mỏ: Vùng biển Việt Nam rộng hơn l triệu km2 trong đó có 500.000km2 nằm trong vùng triển vọng có dầu khí. Trữ lượng dầu khí ngoài khơi miền Nam Việt Nam có thể chiếm 25% trrữ lượng dầu dưới đáy biển Đông. Có thể khai thác từ 30-40 ngàn thùng/ngày (mỗi thùng 159 lít) khoảng 20 triệu tấn/năm. Trữ lượng dầu khí dự báo của toàn thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấn quy dầu. Ngoài dầu Việt Nam còn có khí đốt với trữ lượng khoảng ba nghìn tỷ m3/năm.

    - Giao thông: Bờ biển nước ta chạy dọc từ Bắc tới Nam theo chiều dài đất nước, với 3.260km bờ biển có nhiều cảng, vịnh… rất thuận liện cho giao thông, đánh bắt, hải sản. Nằm liên trục giao thông đường biển quốc tế từ Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương, trong tương lai sẽ là tiềm năng cho ngành kinh tế dịch vụ trên biển (đóng tàu, sửa chữa tàu, tìm kiếm cứu trợ, thông tin dẫn dắt...).

    - Du lịch: Bờ biển dài có nhiều bãi cát, vụng, vịnh, hang động tự nhiên đẹp, là tiềm năng du lịch lớn của nước ta.

    + Quốc phòng, an ninh:

    Biển nước ta nằm trên đường giao thông quốc tế từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam, vì vậy có vị trí quân sự hết sức quan trọng. Đứng trên vùng biển-đảo của nước ta có thể quan sát khống chế đường giao thông huyết mạch ở Đông Nam Á.

    Biển-đảo nước ta có tầm quan trọng hết sức lớn lao đối với sự phát triển trường tồn của đất nước.

    [IMG]


    3. Đảo và quần đảo nước ta và tầm quan trọng của nó

    - Đảo và quần đảo:

    Vùng biển nước ta có trên 4000 hòn đảo lớn nhỏ trong đó:

    + Vùng biển Đông Bắc có trên 3.000 đảo.

    + Bắc Trung Bộ trên 40 đảo.

    + Còn lại ở vùng biển Nam Trung Bộ, vùng biển Tây Nam và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    - Căn cứ vào vị trí chiến lược và các điều kiện địa lý kinh tế, dân cư, thường người ta chia các đảo, quần đảo thành các nhóm:

    + Hệ thống đảo tiền tiêu có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên các đảo có thể lập những căn cứ kiểm soát vùng biển, vùng trời nước ta, kiểm tra hoạt động của tàu, thuyền, bảo đảm an ninh quốc phòng, xây dựng kinh tế, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước ta. Đó là các đảo, quần đảo như: Hoàng Sa, Trường Sa, Chàng Tây, Thổ Chu, Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Cô Tô, Bạch Long Vĩ...

    + Các đảo lớn có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội. Đó là các đảo như: Cô Tô, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc.

    + Các đảo ven bờ gần có điều kiện phát triển nghề cá, du lịch và cũng là căn cứ để bảo vệ trật tự, an ninh trên vùng biển và bờ biển nước ta. Đó là các đảo thuộc huyện đảo Cát Bà, huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), huyện đảo Phú Quý (Bình Thuận), huyện đảo Côn Sơn (Bà Rịa-Vũng Tàu), huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang)...

    + Việt Nam có hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa.
    - Đảo và quần đảo nước ta có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; vai trò lớn lao trong công cuộc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc ta.

    4. Vịnh Bắc Bộ

    - Nằm ở Tây Bắc Biển Đông, được bao bọc bởi bờ biển Việt Nam và Trung Quốc.

    - Diện tích khoảng 126.250km2, chiều ngang, nơi rộng nhất khoảng 310 km và nơi hẹp nhất khoảng 220km. Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ ký tháng 12/2000 giữa Việt Nam và Trung Quốc đã xác định biên giới lãnh hải của hai nước ở ngoài cửa sông Bắc Luân, cũng như giới hạn vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ta và Trung Quốc ở trong Vịnh Bắc Bộ. Về diện tích tổng thể theo mực nước trung bình thì ta được 53,23%, Trung Quốc được 46,77% diện tích Vịnh.

    - Là vịnh nông, nơi sâu nhất khoảng l00m.

    Thềm lục địa Việt Nam khá rộng, độ dốc thoải và có một lòng máng sâu trên 70m gần đảo Hải Nam của Trung Quốc.

    -Phần Vịnh phía Việt Nam có khoảng 3.000 đảo lớn nhỏ, đảo Bạch Long Vĩ diện tích 2,5km2 cách đất liền Việt Nam 110km, cách đảo Hải Nam của Trung Quốc 130km. Có nhiều nguồn lợi hải sản và tiềm năng dầu khí (trữ lượng cá của Việt Nam khoảng 44 vạn tấn).

    5. Vịnh Thái Lan
    - Nằm ở Tây Nam biển Đông, được bao bọc bởi bờ biển Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaixia.

    - Diện tích khoảng 293.000km2, chu vi khoảng 2.300km.

    - Là một vịnh nông, nơi sâu nhất khoảng 80 mét.

    - Đảo Phú Quốc trong Vịnh là đảo lớn nhất của Việt Nam, diện tích 567km2.

    - Có nhiều nguồn lợi hải sản (trữ lượng cá của Việt Nam khoảng 51 vạn tấn).

    Có tiềm năng dầu khí lớn: Việt Nam đã khai thác và hợp tác khai thác vùng chồng lấn với Malaixia.

    6. Vài nét về Hoàng Sa - Trường Sa
    - Quần đảo Hoàng Sa

    Quần đảo Hoàng Sa là một quần đảo san hô nằm giữa Biển Đông. Từ lâu Hoàng Sa cũng như Trường Sa đã thuộc lãnh thổ Việt Nam với tên Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa.

    Quần đảo Hoàng Sa nằm trong kinh độ 1110 ­­ đến 1130 Đông, vĩ độ 15045’; đến 17015’, ngang với vĩ độ Huế và Đà Nẵng. Hoàng Sa nằm ở phía Bắc Biển Đông, trên đường biển quốc tế từ Châu Âu đến các nước phía Đông và Đông Bắc Á và giữa các nước Châu Á với nhau.

    Quần đảo Hoàng Sa gồm trên 30 đảo trong vùng biển rộng khoảng 15.000 km2 chia ra làm 2 nhóm: Nhóm phía Đông có tên là An Vĩnh, gồm khoảng 12 đảo nhỏ và một số đảo san hô, Trong đó có 2 đảo lớn là Phú Lâm và Linh Côn, mỗi đảo rộng 1,5km2 ; nhóm phía Tây gồm nhiều đảo xếp vòng cung nên gọi là nhóm lưỡi liềm, trong đó có các đảo Hoàng Sa (diện tích 1km2) Quang Ảnh, Hữu Nhật, Quang Hoà, Duy Mộng, Chim Yến, Tri Tôn…Riêng đảo Hoàng Sa có trạm khí tượng của Việt Nam hoạt động từ năm 1938 đến 1947, được tổ chức khí tượng quốc tế đặt số hiệu 48-860 (số 48 chỉ khu vực Việt Nam)

    Dưới triều Nguyễn, quần đảo Hoàng Sa thuộc phủ Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Nam. Năm 1938 thuộc tỉnh Thừa Thiên. Năm 1961 gọi là xã Định Hải, quận Hoà Vang tỉnh Quảng Nam. Năm 1982 chính phủ ta quyết định thành lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng. Nay trở thành huyện Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng.

    Năm 1956 Trung Quốc chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa. Tháng 1/1974, trong lúc quân và dân ta đang tập trung sức tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Trung Quốc đã đem quân ra đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

    - Quần đảo Trường Sa

    Quần đảo Trường Sa cách quần đảo Hoàng Sa khoảng 200 hải lý về phía Nam. Quần đảo Trường Sa bao gồm hơn 100 đảo nhỏ, bãi ngầm, bãi san hô nằm trải rộng trong một vùng biển khoảng 180.000 km2 với chiều Đông Tây là 325 hải lý, chiều Bắc Nam là 274 hải lý, từ vĩ độ 6030’ Bắc đến 120 Bắc và từ kinh độ 111030’ Đông đến 117020’ Đông, cách Cam Ranh 248 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) 595 hải lý.

    Quần đảo Trường Sa được chia làm 10 cụm: Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm, Bãi Vũng Mây, Bãi Hải Sâm, Bãi Lim, Song Tử Tây là đảo cao nhất (cao 4 đến 6 mét lúc triều xuống); Ba Đình là đảo rộng nhất (0,6km2) trong quần đảo.

    Điều kiện tự nhiên và khí hậu vùng này rất khắc nghiệt: nắng gió, giông bão thường xuyên, thiếu nước ngọt, nhiều đảo không có cây. Quần đảo Trường Sa không chỉ là vị trí quân sự chiến lược án ngữ phía Đông Nam nước ta, bảo vệ vùng biển và hải đảo ven bờ, mà còn là một vùng có trữ lượng lớn phốt phát khá lớn, có nhiều loại động thực vật và có thể có nhiều dầu.

    Việt Nam đang có mặt và bảo vệ 21 đảo và bãi đá ngầm trên quần đảo Trường Sa.

    Theo Những điều cần biết về biển - đảo Việt Nam


    Nguồn: trang web của Hội Liên hiệp thanh niên Việt nam - ủy ban TP.HCM: http://www.lendang.com.vn
  2. thanlan New Member

    Số bài viết: 560
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    thanks a Minh vì các thôgn tin này .
    TL thêm 1 đoạn phóng sự của HTV trong chuyến đi thăm đảo Trường Sa :


    [AUDIO]http://media.tuoitre.com.vn/Stream/Videoclip/phonghsu/2007/vitruongsathanyeu.wmv[/AUDIO]
  3. dv007 Guest

    Số bài viết: 0
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
  4. Action New Member

    Số bài viết: 766
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Chuyện Trường Sa của người Trường Sa - I

    Tiếp quản Trường Sa :p:p


    <O:p></O:p>


    Đại tá Nguyễn Văn Dân sinh năm 1945 tại xã Bình Minh, Tĩnh Gia, Thanh Hoá, nhập ngũ năm 1964. Có gần 20 năm (1975 – 1994) gắn bó với quần đảo Trường Sa trước khi phụ trách Hệ đào tạo sau đại học của Học viện Hải quân rồi nghỉ hưu năm 2000, ông được coi là một trong những kho tư liệu sống về Trường Sa.
    [IMG]
    Năm 1975, tôi đang là Trung uý, trợ lý tham mưu của Khu vực 2 Sông Mã, Hải quân (Khu vực là cấp tổ chức hải quân, tương đương Vùng hiện nay- Th.Th.), được lệnh tham gia Đoàn công tác tiếp quản căn cứ Cam Ranh. Đoàn gồm 42 người, do Trung tá Hà Trung Hỷ, Chính uỷ K2 chỉ huy (tháng 9.1975, Lữ đoàn 126 Hải quân đánh bộ được thành lập, ông Hà Trung Hỷ là Chính uỷ Lữ đoàn- Th.Th.), Đại uý Ngô Lai làm Tham mưu trưởng.<O:p></O:p>
    Đoàn đi tàu đến Đà Nẵng ngày 2.4.1975. Tại đây, chúng tôi được biết chủ trương của trên, phải bí mật, nhanh chóng giải phóng các đảo ở quần đảo Trường Sa đang do quân Sài Gòn đóng giữ, kiên quyết không để lực lượng nào khác nhân tình hình lúc đó để chiếm đóng. Rồi tàu chúng tôi đi tiếp, đến quân cảng Quy Nhơn tối 6 tháng Tư. Khi đó, ở cảng Quy Nhơn vẫn chưa hết tiếng súng. Từ Quy Nhơn, Đoàn đi ô tô, vào đến Nha Trang ngày 7 tháng Tư. Ở đây, chúng tôi được lệnh gấp rút ra tổ chức tăng cường cho lực lượng ở Trường Sa. Giữa tháng Tư, chúng tôi xuống hai tàu do Bộ Tư lệnh Hải quân đưa từ Hải Phòng vào, giả dạng tàu cá số hiệu 679 – 680, ra Trường Sa.<O:p></O:p>
    Ngày 14, ta giải phóng đảo Song Tử Tây. Chúng tôi tiếp quản đảo Song Tử Tây từ đơn vị giải phóng đảo, tổ chức lại công tác bảo vệ và nắm thêm tình hình chung. Sau đó, chúng tôi đến đảo Sơn Ca, một ngày sau khi đảo này được lực lượng ta trên tàu 641 giải phóng (25.4). Tại đây, Đoàn nhận 16 tù binh Sài Gòn để đưa về Cam Ranh trên tàu 641. Anh Hùng người Hà Tây, chỉ huy đơn vị giải phóng đảo Sơn Ca cho biết, hình như có một – hai lính Sài Gòn bơi sang đảo Ba Bình bên cạnh, do Đài Loan chiếm đóng. Sau đó, Đoàn tiếp tục đến đảo Nam Yết. Lúc đó ở gần Nam Yết có một tàu khu trục của hải quân Sài Gòn, nhưng tàu này rút đi khi thấy tàu ta tới. <O:p></O:p>
    Đảo thứ tư Đoàn tới là đảo Sinh Tồn. Chúng tôi dừng tại đây lâu hơn. Khi đó, trên đảo còn ngôi mộ của một Thiếu uý Sài Gòn, bia ghi tên là Tính hay Tích gì đó, lâu rồi tôi không nhớ, ở Chợ Lớn, bị bệnh chết. Tôi nói với anh em, dù ở bên nào, nhưng họ cũng là người Việt Nam, tham gia giữ chủ quyền cho Tổ quốc, nay chết ở đây, mình cũng nên giữ mộ cho họ. Sau này ngôi mộ được di dời thế nào, tôi không rõ. Từ đảo Sinh Tồn, chúng tôi đến đảo Trường Sa Lớn, ngày 2 tháng Năm. Đây là đảo chúng tôi ở lại lâu nhất để củng cố tổ chức, lực lượng, đảm bảo các hoạt động.<O:p></O:p>
    Nhìn chung, khi đó tổ chức phòng thủ của quân Sài Gòn tại Trường Sa còn sơ sài, thực phẩm cho lính chỉ có gạo sấy và đồ hộp. Các đảo còn hoang vu, ở Nam Yết cây mọc khá rậm rạp. Nhưng đảo này và đảo Sơn Ca hầu như không có chim, trong khi ở Song Tử Tây, Sinh Tồn và Trường Sa rất nhiều chim. Có những bãi chim, chim bay ào ào trên đầu, còn dưới đất chim con nằm dày đặc, chúng tôi không dám bước chân… Lúc đầu, chúng ta chưa xác định được cơ cấu tổ chức, trang bị, phương tiện, công tác phòng thủ tại các đảo. Dần dần, các khâu này được hoàn chỉnh, việc bảo đảm đời sống cho anh em trên các đảo đi vào nề nếp. Năm 1978, ta bắt đầu làm sân bay ở Trường Sa… <O:p></O:p>
    Trong quá trình ra tiếp quản các đảo năm 75, hầu như chúng tôi không thấy tàu Mỹ. Nhưng có một số tàu của đối phương – nói thế anh hiểu đối phương là ai rồi - ở quanh các đảo. Khi thấy tàu ta đến, họ rút đi. Ở các đảo Thị Tứ, Loại Ta chúng tôi thấy có tàu mang cờ
    Tranh chấp tại đảo An Bang năm 1978, tôi không trực tiếp tham gia. Có bạn thân của tôi là Lê Văn Sợi cùng tàu HQ 617 ra An Bang, đối đầu với lực lượng
    [IMG]
    Trung tuần tháng 5 năm 75, tôi về lại Nha Trang, được cử làm Cảng vụ trưởng ở căn cứ Cam Ranh. Khu vực Cam Ranh khi đó còn thường xuyên bị không quân Sài Gòn ném bom, nhiều nhất là ở cầu Trà Long trên quốc lộ 1A. Chỗ cảng còn rất nhiều tàu, sà lan chở dân tị nạn, cả xác lính Sài Gòn, xác dân. Dân di tản còn ở Cam Ranh khá nhiều. Thậm chí có mấy người lính Sài Gòn vẫn mặc quân phục cũ, đeo băng đạn, xin cách mạng cho bộ đồ Tô Châu để họ mặc, đứng ra giữ gìn trật tự… <O:p></O:p>
    Lúc đó, nghe tin còn lực lượng địch cố thủ trong căn cứ Cam Ranh, tôi được lệnh đưa một sĩ quan Sài Gòn đi kiểm tra. Đó là trung uý Tuân ở căn cứ Lam Sơn (Dục Mỹ, Ninh Hoà, Khánh Hoà), nhà ở số 91 Nguyễn Trãi, Nha Trang. Ông Tuân có thời gian làm việc trong Cam Ranh nên ít nhiều biết các khu vực ở đây. Các điểm chúng tôi kiểm tra đều mới bị đào bới. Nghe nói, sau khi Mỹ rút khỏi Cam Ranh năm 1973, đã có các nhà thầu được vào đó tìm phế liệu…<O:p></O:p>
    Tháng 8 năm 75, tôi làm Hải đội phó Hải đội Cam Ranh. Tháng 10 năm 78, Vùng 4 duyên hải được thành lập. Năm 80, tôi là Đại uý Hải đội trưởng, được điều lên làm Trưởng ban Huấn luyện của Vùng 4, rồi được cử đi học ở Liên Xô. Năm 1983 về nước, tôi làm Phó Tham mưu trưởng Vùng, được giao nhiệm vụ chuyên giúp cho các đảo Trường Sa. <O:p></O:p>


    Chuyện Trường Sa của người Trường Sa - II
    Chiến dịch Chủ quyền 88

    Tháng 10/1987, Trung tá Nguyễn Văn Dân ra Trường Sa trực tiếp chỉ huy việc dựng nhà cao chân tại các đảo chìm, bãi đá ngầm. Chuyến đi gian khổ đó kéo dài tới 10 tháng, tháng 8/1988 ông mới về đến đất liền.
    [IMG]
    Trước năm 87, mình đã xây nhà trên một số đảo chìm, tình hình chưa đến nỗi phức tạp lắm. Nhưng từ giữa năm 1987, tình hình tại quần đảo Trường Sa diễn biến rất khẩn trương. Khi đó tôi là Trung tá, Phó Tham mưu trưởng Vùng 4, trực tiếp chỉ huy khu vực 2 của Trường Sa. Biết đối phương có ý đồ, cấp trên chỉ đạo Vùng 4 làm sẵn các khung nhà cao chân, tổ chức biên chế lực lượng để mang ra ráp tại các đảo chìm, bãi đá ngầm.

    Tháng 10/1987, tôi trực tiếp cùng Trung tá Lưu Đình Lừng - Hải đội trưởng một hải đội của Lữ đoàn 125 ra tăng cường cho Trường Sa. Không ngờ, chuyến đi đó kéo dài tới 10 tháng, đến tháng 8/1988 tôi mới về đất liền.
    Trên tàu HQ 617, chúng tôi mang 3 khung nhà cao chân và 3 khung lực lượng đóng giữ đảo, vừa nắm tình hình vừa dựng nhà trên đảo chìm. Trọng tâm là giữ bằng được đảo Đá Lớn. Đảo Đá Lớn gần đất liền hơn so với nhiều đảo khác. Đá Chữ Thập còn gần hơn, nhưng lúc đó mình quan niệm Chữ Thập nó nhỏ. Đá Lớn là một bãi cạn dài hơn 20 km, tương đương với các đảo Thuyền Chài, Đá Đông, là những đảo loại to nhất ở Trường Sa, đều do ta đóng giữ. Đảo Núi Thị cũng rất quan trọng, ở ngay phía Đông đảo Ba Bình đang bị Đài Loan chiếm giữ và không xa các đảo Thị Tứ, Loại ta đang bị Philippines chiếm giữ.
    Khoảng ngày 7-8/11/1987, có một cơn bão lớn, tàu HQ 617 bị mất toàn bộ hệ thống neo. Trước đó, chúng tôi đã xác định được luồng vào hồ Đá Lớn và 3 điểm dựng nhà, nhưng do bão quá lớn, phải về đất liền tránh bão…
    Ngày 20/1/1988, chuyến máy bay đầu tiên chở cán bộ của Bộ Tư lệnh Hải Quân do Chuẩn Đô đốc, Phó Tư lệnh trưởng Phạm Huấn dẫn đầu vào đến Cam Ranh. Tại đây, ông Phạm Huấn phổ biến Nghị quyết của Quân chủng về nhiệm vụ đóng giữ các đảo chìm trong tình hình khẩn trương. Đến tháng 2, Tư Lệnh Quân chủng Giáp Văn Cương cũng vào Cam Ranh, trực tiếp làm Tư lệnh Vùng 4, chỉ huy chiến dịch Chủ Quyền 88 (CQ88).
    Tôi được Vùng giao làm Phó trưởng đoàn, phụ trách chỉ huy đi biển của Đoàn công tác ra tiếp tục đóng giữ các đảo, bãi ngầm. Hướng chính là Đá Đông, Châu Viên, Đá Lát… Tổ chức đóng giữ xong Đá Đông đã sát Tết, có thêm lực lượng ra, do Chỉ huy trưởng Vùng 4, Đại tá Lê Văn Thư trực tiếp chỉ huy...
    Diễn biến ác liệt đầu tiên xảy ra là ở bãi Châu Viên. Sáng 18.2.1988, khi lực lượng mình đến, Trung Quốc đưa tàu khu trục, tàu pháo đến chặn, không cho mình lên đảo. Chưa có bắn pháo, nhưng khi mình lên thì nó ngăn chặn. Hai bên hằm hè nhau... Tối đó có dông lớn, cả nó cả mình đều bị trôi neo. Tàu chúng tôi về Đá Đông, làm căn nhà cao chân đầu tiên ở mỏm Đông của Đá Đông, kéo cờ lên khẳng định chủ quyền. Nhưng Trung Quốc cũng đổ bộ lên phía bên kia, mỏm Tây của Đá Đông. Tàu HQ 661 của mình lao lên đó, bên kia thôi. HQ 661 lao lên đó, nhưng chỉ kẹt, không hỏng tàu, sau cứu ra được. Tàu chiến của nó cứ quần liên tục ở bên ngoài. Ngày 19.2, chúng tôi tiếp tục xây dựng 3 nhà trên đảo Đá Đông, lực lượng trú đóng hơn 80 người.
    Nhưng phía bãi Châu Viên, mình không lên được nữa rồi. Trung Quốc đã đổ quân chiếm đóng, nó sẵn sàng nổ súng nếu mình lên…
    Đêm 13.3, tôi được lệnh lên tàu HQ 614, chỉ huy lực lượng hành quân ngay lên phía đảo Sinh Tồn...

    Ông Nguyễn Văn Dân thăm bộ đội đảo Núi Thị,năm 1988[IMG]

    Tháng 4.1975, Hải quân Nhân dân Việt Nam giải phóng và tiếp quản các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa từ Hải quân Việt Nam Cộng hoà.
    Tháng 2.1978, Philippines đưa quân chiếm đóng đảo Ponata, đảo Dừa.
    Ngày 10.3.1978, quân ta đổ bộ lên đảo An Bang. Ngày 15.3.1978, ta đóng giữ đảo Sinh Tồn Đông. Ngày 30.3.1978, ta đóng giữ đảo Hòn Sập (Phan Vinh). Ngày 4.4.1978, quân ta hoàn thành việc đóng giữ đảo Trường Sa Đông. Cũng trong tháng 4.1978, 1 phân đội được đưa ra đóng giữ đảo Thuyền Chài, nhưng do điều kiện vật chất chưa bảo đảm nên tháng 5.1978 phân đội được rút về đất liền.
    Tháng 12.1986 và tháng 1.1987, Malaysia chiếm đóng bãi Kỳ Vân và bãi Kiệu Ngựa.
    Tháng 3.1987, ta trở lại đóng giữ đảo Thuyền Chài.
    Tháng 6.1987, Trung Quốc diễn tập quân sự ở Nam biển Đông. Tháng 10, tháng 11.1987, một số tàu chiến của Trung Quốc đi gần các đảo An Bang, Thuyền Chài, Trường Sa Đông, Trường Sa, Song Tử Tây.
    Ngày 24.10.1987, Tư lệnh Quân chủng Hải quân ra lệnh Vùng IV chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu từ thường xuyên lên tăng cường. Ngày 6.11.1987, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Mệnh lệnh bảo vệ quần đảo Trường Sa, giao cho Quân chủng Hải quân "Đưa lực lượng ra đóng giữ các bãi đá cạn chưa có người, không chờ chỉ thị cấp trên".
    Ngày 2.12.1987, tàu HQ 604 thuộc Lữ đoàn 125 đưa bộ đội đến đảo Đá Tây.
    Ngày 22.1.1988, Trung Quốc đưa 4 tàu hộ vệ tên lửa, tuần dương, tàu dầu, tàu đổ bộ và một số tàu khác đến chiếm đóng đảo Chữ Thập. Ngày 27.1.1988, Đại tá Phạm Công Phán, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 chỉ huy 1 đại đội công binh mang 2 khung nhà ra đóng giữ đảo Chữ Thập. Do hỏng máy, sáng 30.1 tàu mới đến gần Chữ Thập, bị 4 tàu chiến Trung Quốc ngăn cản. Tàu ta đành phải quay về Trường Sa Đông, không thực hiện được việc đóng giữ đảo Chữ Thập.
    Đảng ủy Quân chủng Hải quân xác định: "Lúc này, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và vinh quang nhất của Quân chủng Hải quân".
    Ngày 5.2.1988, quân ta đóng giữ đảo Đá Lát. Ngày 6.2.1988, quân ta đóng giữ đảo Đá Lớn.
    Ngày 26.2.1988, Trung Quốc chiếm đóng đảo Ga Ven.
    Ngày 26.2.1988, quân ta đóng giữ đảo Tiên Nữ. Ngày 27.2.1988, ta chốt giữ thêm đảo Tốc Tan. Ngày 2.3.1988, ta đóng giữ thêm đảo Núi Le.
    Theo Lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam và một số tư liệu khác

    <!-- -->

    Chuyện Trường Sa của người Trường Sa - III

    14.3.1988

    Đêm 13.3, tôi được lệnh lên tàu HQ 614, chỉ huy lực lượng hành quân ngay lên phía đảo Sinh Tồn. Ông chỉ huy cả lực lượng của Anh hùng liệt sĩ Trần Đức Thông? Không, anh Thông vừa đi phép vào, đi tàu 604 từ đất liền ra, cùng tàu 505, còn tôi từ Đá Đông lên.
    Chúng tôi hành quân ngay trong đêm 13, đi ở khoảng giữa Châu Viên và Phan Vinh. Có hai tàu Trung Quốc đến kèm, theo tôi nhớ là tàu 203 và tàu 205. Tàu chúng tôi bắt đầu bị mất liên lạc với đất liền. Do bị nó chặn đường, nên đến chiều tối ngày 14, chúng tôi mới đến được đảo Sinh Tồn. Lúc đó, HQ 604, HQ 605 đã bị bắn chìm, HQ 505 đã lao lên Cô Lin.
    Đêm 14, chúng tôi đưa anh em thương binh lên đảo Sinh Tồn để cứu chữa, và báo cáo tình hình về nhà. Anh Doan, chính trị viên tàu 605 hy sinh trên tàu, anh em chèo xuồng đưa được về Sinh Tồn và an táng ở đó.

    Con tàu Anh hùng HQ505 lao lên Cô Lin, thành mốc chủ quyền Việt Nam. Ảnh trên báo Nhân Dân ngày 25.3.1988
    [IMG]


    Sáng 15, chúng tôi ra chỗ tàu 605, 604. Theo vết dầu nổi lên, chúng tôi xác định được vị trí 605 chìm, thả neo đánh dấu. Rồi chạy qua chỗ Gạc Ma. Trung Quốc mới dựng cái chòi nhỏ ở đó. Lúc đó 604 không còn dấu vết gì cả…! Hồi đó nêu tên 74 người mất tích, nhưng sau kiểm lại, thực tế có 71 người hy sinh, mất tích và bị bắt. Anh em còn lại đã về Sinh Tồn, về 505. Chúng tôi tiếp tục tìm, đến gần 12 giờ trưa, 2 tàu khu trục Trung Quốc đến ngăn chúng tôi vào khu vực Gạc Ma. Chúng tôi không thể vào được, không xác định được vị trí tàu 604 chìm... Hẻm giữa Cô Lin và Gạc Ma rất sâu, nhưng 505 đã lao lên được Cô Lin. Còn 604, chúng tôi đoán 604 thả neo ở Tây Nam Gạc Ma, khi bị bắn thì chìm rất sâu nên không thấy vết dầu nổi lên…
    Chúng tôi cho tàu 614 cập vào chỗ tàu 505 ở Cô Lin, lập sở chỉ huy trực tiếp tại đó. Tôi ở cụm Sinh Tồn, Cô Lin, Len Đao cho đến tận tháng 8.1988. Tháng 4, tàu cứu hộ Đại Lãnh với bên Chữ Thập Đỏ ra, anh em lặn tìm tàu 605, chìm ở độ sâu 39 m. Theo báo cáo, có một đồng chí báo vụ hy sinh trong tàu, tổ thợ lặn xuống khảo sát, tìm kiếm kỹ trong tàu nhưng không thấy xác... Đó là những ngày rất căng thẳng, nhất là ở khu vực Len Đao, Cô Lin, Gạc Ma. Tôi còn nhớ ngày 12.5, tàu pháo Trung Quốc áp sát tàu 614 đang ở cạnh đảo Len Đao, chỉ cách 30 m. Nhưng chúng tôi vẫn bình tĩnh xử lý, không để xảy ra cái gì cho nó gây sự. Nói thêm, tàu 614 là tàu vận tải loại cũ, nay không còn sử dụng. Tàu 605, 604 là loại 400 tấn, còn tàu 505 trọng tải 200 tấn, chủ yếu chở nước.
    Nói chung dịp 1988, các đảo ta chủ định đóng giữ đều đóng giữ được, trừ Huy Ghơ, Gạc Ma, Châu Viên, Chữ Thập, Ga Ven. Chỗ Sinh Tồn là một cụm đảo lớn, Trung Quốc nó đóng hai điểm, Huy Ghơ và Gạc Ma.
    Ga Ven gần Nam Yết. Dịp đó, có lần tàu chúng tôi giả dạng tàu cá, đi từ đảo Trường Sa lên Đá Lớn, để đưa một tổ ra làm thêm nhà ở Đá Lớn. Do la bàn sai lên tàu chạy vào gần Chữ Thập lúc 12 giờ trưa, rồi mờ sáng sau chạy vào gần Ga Ven. Ngày đó phương tiện mình thô sơ đến mức như thế. Lúc đó Trung Quốc nó làm nhà ở Ga Ven rồi, nó bắn AK ra…
    Tại sao hồi ở Gạc Ma, mình không đánh lại? Nói chung, chủ trương của ta hồi đó là không đưa tàu chiến ra. Mình khẳng định chủ quyền là của mình, đưa chủ yếu các phương tiện vận tải, anh em công binh ra giữ chủ quyền. Nếu có đưa tàu chiến ra Trường Sa, chỉ là để tăng cường hỗ trợ bảo vệ, chứ không phải để đối đầu, gây chiến. Chủ quyền là của mình, mình có trách nhiệm tiếp tục đóng giữ, bảo vệ. Chủ trương của mình là vậy. Một lý do nữa, tôi chưa nói được…
    Còn Trung Quốc, họ muốn có chủ quyền bằng sức mạnh. Tức là, một cái tàu đưa người định đến đóng đảo nào thì đều có tàu chiến đi cùng, thậm chí là tàu tuần dương. Họ đi đâu đều có phương tiện đủ bộ, sẵn sàng nổ súng.
    Nói thêm chỗ Gạc Ma, Sinh Tồn. Chỗ đó mình không nổ súng, vì từ Sinh Tồn ra đến Gạc Ma mấy chục cây số, sao mà nổ súng tới.
    Hồi đó, mình đã đưa không quân ra Trường Sa? Máy bay mình bay ra, máy bay Trung Quốc cũng bay đến. Ngày 14, 15, 16 máy bay AN26 của mình có bay ra Cô Lin, Len Đao. Nhưng cũng rất kìm chế. Tôi chỉ có nghĩ thế này: Trung Quốc họ nói thế này thế nọ, nhưng họ hành động bằng vũ lực, chứ không đối thoại.

    Bản đồ Trường Sa, 1988

    [IMG]
    Qua CQ88, tôi rút ra mấy cái.
    Một là, chủ quyền bây giờ ta có được là do đánh giá đúng âm mưu, ý đồ, thái độ của các bên đối phương đối với các điểm đảo Trường Sa, cả đảo nổi và đảo chìm. Cho nên, có quyết tâm kịp thời, khắc phục khó khăn để giữ được các đảo.
    Cái thứ hai, mặc dù có khó khăn về phương tiện, nhưng nỗ lực rất lớn. Mỗi người tham gia bảo vệ Trường Sa đều có quyết tâm lớn. Lúc bấy giờ, có những cái rất căng thẳng, có những thời điểm quá khắc nghiệt. Trên tàu, mấy chục anh em chúng tôi cùng đi với nhau, lúc đầu cũng có hoang mang. Nhưng sau khi chứng kiến sự việc, chúng tôi củng cố, quyết tâm hơn. Ở nhà, lúc đầu tưởng tôi đã hy sinh, vì tàu bị mất liên mạc, tưởng Trung Quốc bắn rồi. Danh sách hy sinh không ghi tên tôi, nhưng ở quê cứ đồn tôi hy sinh rồi…Vợ tôi ốm là vì thế. Sau có tàu Đại Lãnh về đất liền, tôi nhờ cái ông đó điện về nhà, mới hồi dần. Có lúc tàu chúng tôi hết cả cái ăn, nước uống, quần đùi may ô suốt, may có Mỹ Á ra tiếp tế… Cái lòng bền bỉ, sự kiên quyết của anh em rất là lớn.
    Cái thứ ba, trước các tình huống khi đó, chỉ huy trực tiếp gián tiếp đều rất linh hoạt, kịp thời. Hồi đó, phương tiện thiếu thốn, nhưng lên chỗ nào để tìm địa điểm làm nhà, đưa quân đóng giữ, thấy có điều kiện là làm ngay. Đồng thời, đối sách hết sức khéo léo, không để dẫn đến nổ súng, ví dụ như tình hình ở Len Đao, tôi đã kể. Hoặc tình hình căng thẳng hồi tháng Tư, khi tàu cứu hộ Mỹ Á ra thay cho tàu Đại Lãnh, Trung Quốc cho 5 tàu chiến vây ép hai tàu này và 614. Đối phương cho rằng mình lợi dụng cứu hộ để mang tên lửa ra, nó gây căng thẳng lắm. Mình vẫn bình tĩnh xử lý được. Thái độ họ hung hăng, nhưng mình bình tĩnh, việc ai người ấy làm, chủ quyền mình mình giữ.
    Năm 1988, ta đã để cho Trung Quốc chiếm đảo?
    Ai cho rằng Việt Nam để cho Trung Quốc chiếm các đảo chìm, bãi chìm, không đúng. Quần đảo Trường Sa quá rộng, các điểm đảo cách nhau rất xa, mình hết sức cố gắng đóng giữ với khả năng của mình. Nhưng có những điểm, khi mình đưa lực lượng đến đóng giữ thì Trung Quốc gây sự. Không phải là vì chỗ này chỗ kia, Việt Nam không đóng nên Trung Quốc đóng đâu. Mà Trung Quốc cố tình đưa phương tiện, lực lượng vũ trang hiện đại đến, dùng sức mạnh áp đảo để chiếm đóng. Tôi nói điển hình như vụ Gạc Ma. Chủ quyền của mình rồi, mình mới đưa anh em lên giữ đảo, để thể hiện chủ quyền của mình thôi. Nếu Trung Quốc có thiện chí, họ sẽ thể hiện thái độ bằng con đường này con đường khác. Nhưng khi bộ đội Việt Nam tay không lên đảo, họ dùng hoả lực tàu chiến, dùng pháo bắn tới tấp lên tàu, bắn lên anh em tay không trên đảo. Tàu 604, anh em đi trên 100 người…
    Vụ đó, nếu Trung Quốc nói rằng họ đã cắm cờ ở Gạc Ma, rồi mình lên nhổ cờ của họ nên họ mới bắn, là hoàn toàn sai. Vì Sinh Tồn gồm Sinh Tồn Lớn, Sinh Tồn Đông, rồi một vòng chìm xuống là Đá Hốc, Cô Lin, Len Đao… là một cụm gắn với nhau. Cả một vòng gắn với nhau, mình đã đóng mà Trung Quốc ngang nhiên lên đó. Họ nói thế là chính họ thừa nhận họ làm sai.

    Về chủ quyền biển đảo, các thế hệ của mình đã có mặt ở Trường Sa từ xưa đến giờ. Không những sau khi đất nước Việt Nam hoàn toàn giải phóng, mà từ trước đó, chế độ Sài Gòn, họ vì con người Việt Nam, đã đưa người Việt Nam ra giữ biển đảo của mình, chủ quyền của mình. Đó là cái ý nghĩa cơ bản, lâu dài của việc giữ chủ quyền. Năm 88, chỉ là một thời điểm trong cả quá trình. Nếu ta có điều kiện, có tiềm lực, đã đóng giữ hết từ trước. Nhưng mình làm từng bước một, khả năng có đến đâu làm đến đấy. Củng cố những nơi có điều kiện cho bộ đội ở ổn định, rồi tiếp tục làm những chỗ khác. Các nước tổ chức lực lượng, dùng sức mạnh của họ ra chiếm đóng là hành động trái phép. Nó tạo nên căng thẳng ở biển Đông. Năm 1988, xác định được đối phương như thế nên mình đã phản ứng nhanh chóng, chính xác.Từ nhận định cho đến xử tình huống là kịp thời, không gây quá nhiều tổn thất đối với lực lượng mình, cho anh em, nhưng thể hiện quyết tâm giữ chủ quyền. Dù là đảo nổi, đảo chìm đều là vùng biển, hải đảo mà mình có trách nhiệm quản lý và sử dụng.
    Nếu năm 1988 hoặc năm nào đó, các lực lượng đối phương đụng đến các đảo ta đã đóng quân, như Sơn Ca, như Song Tử, sự việc không dừng lại như ở Gạc Ma, như Hoàng Sa 1974…
    Năm 1988, Trung tá Nguyễn Văn Dân và tàu HQ 614 đều được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba. Ông được giao phụ trách quan hệ với Liên Xô ở Vùng 4 Hải quân, từ năm 1994 phụ trách Hệ đào tạo sau đại học của Học viện Hải quân. Ông nghỉ hưu năm 2000. Hiện nay, Đại tá Dân là Chủ tịch Hội Khuyến học phường Vĩnh Nguyên, Nha Trang.

    <!-- -->
    Tags: trườngsa


    Sưu tầm từ Blog http://Thiemthu.multiply.com
  5. sonsyboy9x New Member

    Số bài viết: 268
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
  6. Action New Member

    Số bài viết: 766
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Định gây chiến à?
    Đừng để máu người dân phải đổ nếu có thể dùng đàm phán!
    Vẫn đàm phán, vẫn căng thẳng đấy thôi.
    Lắm thầy nhiều ma, để quy về một mối cho các bác lãnh đạo nhà nước yên tâm lo đi.
    Chừng nào các bác ấy hô lên đường phát thì ale hấp chú có thể lên đường!
    Bi giờ mà tự phát thì rối lắm, các bác lãnh đạo lại bị phân tâm í mà.
    Chúc ngủ ngon!
  7. butchi New Member

    Số bài viết: 68
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
  8. cornboyspkt Member

    Số bài viết: 587
    Đã được thích: 1
    Điểm thành tích: 18
  9. CTXH Moderator

    Số bài viết: 230
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 16
    Mình có xem nhiều tư liệu trên trang web này: Có rất nhiều hình ảnh, tư liệu, quan điểm trong việc giải quyết v/đ Hoàng Sa - Trường Sa, các bạn nên ghé xem http://hoangsa.org

    "Ðất nước Việt Nam có khi thịnh khi suy, lịch sử Việt Nam có khi hưng khi phế, thế hệ trước không giữ được Hoàng Sa nhưng không phải vì thế mà Hoàng Sa trở thành đất của Trung Quốc hay của bất cứ một quốc gia nào khác. Dân tộc Việt Nam, các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau phải nhớ rằng: Bất cứ khi nào các điều kiện kinh tế, chính trị và quân sự cho phép, một trong những việc đầu tiên là phải lấy lại Hoàng Sa." (Nguồn hoangsa.org)
  10. thienly Member

    Số bài viết: 818
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 16
  11. croket_2512 Moderator

    Số bài viết: 2,190
    Đã được thích: 17
    Điểm thành tích: 38
    Giới tính: Nam
    bạn phải tự hào rằng Việt Nam mình rừng vàng biển bạc, thiên thời địa lợi nhân hòa tụi nó ghen ăn tức ở với mình đó. Bạn lên trang hoangsa.org để coi video trên đó. Tụi nó bắn mình khi mình không 1 tấc sắt, dù mình giành chủ quyền trước trên bãi đá Gạc Ma. 64 chiến sĩ hi sinh để giữ ngọn cờ Tố Quốc đứng vững.

Chia sẻ trang này