1. THÔNG BÁO TUYỂN ADMIN DIỄN ĐÀN 2013
    Tìm kiếm nhà trọ - Ở ghép
    THÔNG BÁO BÁN ÁO SPKT.NET CHO THÀNH VIÊN DIỄN ĐÀN


    HÃY TÌM KIẾM Ở ĐÂY TRƯỚC KHI ĐẶT CÂU HỎI
    {xen:phrase loading}

Tổng quan về mạng thông tin di động của Vinaphone

Thảo luận trong 'Mạng máy tính-Viễn thông' bắt đầu bởi small ant, 18 Tháng mười 2011.

  1. small ant Well-Known Member

    Số bài viết: 2,827
    Đã được thích: 88
    Điểm thành tích: 48
    Giới tính: Nữ
    Mạng di động Vinaphone là một trong 2 mạng di động đầu tiên được cấp phép cung cấp
    dịch vụ tại thị trường Việt Nam sau Mobifone và đều thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông
    Việt Nam (VNPT). Mạng Vinaphone từ khi thành lập năm 1996 đã triển khai hệ thống thông
    tin di động GSM 900, sau đó mở rộng băng tần thêm GSM 1800 và gần đây nhất vào tháng
    10/2009 đã trở thành mạng di động đầu tiên ở Việt Nam cung cấp dịch vụ 3G theo chuẩn
    WCDMA. Cho đến hiện nay, Vinaphone vẫn có 3 Trung tâm tại Hà Nội, Hồ Chí Minh và Đà
    Nẵng, đảm bảo việc quản lý, giám sát, điều hành, phát triển hạ tầng phục vụ phủ sóng và dịch
    vụ tới 64/64 tỉnh, thành phố.
    Dưới đây sẽ trình bày một số đặc điểm cấu trúc hệ thống thông tin di động Vinaphone
    đối với cả hệ thống 2G GSM và 3G WCDMA.
    1.2.1. Cấu trúc, các thành phần chức năng hệ thống GSM
    Mạng Vinaphone ban đầu sử dụng GSM 900 là hệ thống thông tin di động dùng băng tần
    xung quanh băng tần 900 MHz (890 - 960) được chia thành 2 dải tần:
    • Dải tần từ 890 – 915 MHz dùng cho đường lên từ MS đến BTS (Uplink).
    • Dải tần từ 935 – 960 MHz dùng cho đường xuống từ BTS đến MS (Downlink).
    Khoảng cách giữa các sóng mang trong hệ thống GSM là 200 KHz. Mà hệ thống GSM
    có 2 băng tần rộng 25 MHz bao gồm 25MHz / 200 = 125 kênh. Trong đó kênh 0 là dãy bảo
    vệ, còn các kênh từ 1 – 124 được gọi là kênh tần số vô tuyến tuyệt đối. Trong đó, Vinaphone
    được cấp phát kênh từ 1 – 41, Viettel từ kênh 42 – 83 và Mobifone từ kênh 84 -124.
    Tương tự, với dải băng tần 1800 MHz dùng cho đường lên từ 1710 – 1785 MHz và
    đường xuống từ 1805 – 1880 MHz, Vinaphone được cấp dải kênh với tần số trong khoảng từ
    1710.1 – 1723.5 Mhz (Uplink) và 1805.1 – 1818.5 MHz (Downlink).
    Do Vinaphone sử dụng hệ thống GSM nên về cơ bản sẽ có cấu trúc tương tự như cấu
    trúc chuẩn của hệ thống GSM do ETSI quy định. Cấu trúc hệ thống thông tin di động GSM
    được phân chia thành các thành phần cơ bản được cho trong hình dưới đây:
    • Hệ thống chuyển mạch (SS)
    • Hệ thống trạm gốc (BSS)
    • Hệ thống điều hành, giám sát hoạt động (OSS)
    [IMG]

    1.2.1.1. Cấu trúc hệ thống chuyển mạch (SS)
    Hệ thống chuyển mạch bao gồm các thành phần:
    • MSC (Mobile Switching Center): Trung tâm chuyển mạch dịch vụ di động.
    MSC chịu trách nhiệm về việc thiết lập sự kết nối các kênh lưu thông:
    �� Tới hệ thống quản lý hạ tầng vô tuyến BSS (trực tiếp tới BSC qua giao diện A)
    �� Tới hệ thống chuyển mạch di động MSC khác (kết nối MSC – MSC qua giao diện
    E)
    �� Tới những mạng chuyển mạch khác khi MSC đóng vai trò G-MSC (ví dụ tới
    PSTN, mạng ngoài…)
    Trung tâm chuyển mạch di động có chức năng xử lý các cuộc gọi đi và đến, đồng thời
    cung cấp các chức năng điều khiển hoạt động cho tất cả các trạm cơ sở trong cùng một hệ
    thống. Chính vì vậy MSC là một bộ phận quan trọng nhất trong hệ thống thông tin di động.
    Nó bao gồm các bộ phận điều khiển và quản lý toàn bộ hệ thống để đạt được hiệu quả cao
    đồng thời phải đảm bảo tuyệt đối về an ninh và an toàn.
    • HLR (Home Location Register): Bộ ghi định vị thưởng trú
    Bộ ghi định vị thường trú có chức năng quản lý toàn bộ dữ liệu thuê bao. Nó là cơ sở dữ
    liệu thuê bao để quản lý nhận thực, cấp phát, hủy, quản lý các dịch vụ người dùng.
    • VLR (Visitor Location Register): Bộ ghi định vị tạm trú
    Bộ ghi định vị tạm trú thường nằm kết hợp trong MSC. Trong thời gian máy di động cập
    nhật vị trí, dữ liệu thuê bao được chuyển từ HLR tới VLR hiện tại. Dữ liệu này được lưu trữ
    trong VLR trong suốt thời gian mà MS di chuyển trong vùng này. VLR sẽ cung cấp dữ liệu
    cho thuê bao bất kỳ lúc bào nó cần cho việc xử lý một cuộc gọi.
    Khi MS di động sang một vùng phục vụ của MSC mới, MSC/VLR cũ sẽ thông báo cho
    HLR và HLR lại tiếp tục ấn định cho MSC/VLR mới quản lý thuê bao đang di động trên.
    • AUC (Authencation Centre) : Trung tâm nhận thực
    Khi một thuê bao muốn truy nhập mạng, VLR đang quản lý sẽ kiểm tra thông tin yêu cầu
    của thuê bao có được chấp nhận hay không, nghĩa là nó thực hiện một sự nhận thực. VLR sử
    dụng những thông số nhận thực được gọi là những bộ ba, nó được tạo ra một cách liên tục và
    riêng biệt cho mỗi thuê bao di động được cung cấp bởi trung tâm nhận thực AUC. Thông
    thường, AUC được kết hợp với HLR.
    • EIR (Equipment Identification Register): Bộ ghi nhận dạng thiết bị
    EIR kiểm tra tính hợp lệ của thuê bao dựa trên yêu cầu đặc tính thiết bị di động quốc tế
    theo số IMEI từ MS sau đó gửi nó tới bộ ghi nhận dạng thiết bị EIR. Trong EIR, IMEI của
    toàn bộ thiết bị di động được sử dụng được phân chia thành các danh sách để quản lý: thiết bị
    di động được chấp nhận, theo dõi, không được chấp nhận (whitelist, greylist, blacklist)
    EIR kiểm tra IMEI của MS và đưa vào một trong các danh sách phân loại trên chuyển
    kết quả tới MSC.
    1.2.1.2. Hệ thống trạm gốc
    Hệ thống trạm gốc bao gồm các khối chức năng chính là BSC và BTS:
    • BSC (Base Station Controller): Bộ điều khiển trạm gốc
    Bộ điều khiển trạm gốc BSC cung cấp những chức năng thông minh điều khiển mọi hoạt
    động của hệ thống con vô tuyến. Một BSC có thể điều khiển nhiều BTS. Nó phân phối sự kết
    nối các kênh lưu lượng (Traffic channel) kèm báo hiệu từ hệ thống chuyển mạch tới các cell
    vô tuyến BTS, ngoài ra nó còn thực hiện quá trình chuyển giao cùng với MSC.
    • BTS (Base Transceiver Station): Trạm thu phát gốc
    Trạm thu phát gốc BTS bao gồm các thiết bị thu phát, anten và xử lý tín hiệu đặc thù cho
    giao diện vô tuyến. BTS được thiết lập tại tâm của mỗi tâm của mỗi tế bào, nó thông tin đến
    các MS thông qua giao diện vô tuyến Um, có nhiệm vụ cung cấp những kết nối vô tuyến giữa
    MS và BTS để MS có thể thực hiện được các dịch vụ.
    Một bộ phận quan trọng của BTS là TRAU là khối chuyển đổi mã hóa và tốc độ.
    • TRAU (Transcoder/Adapter Rate Unit).
    Khối chuyển đổi mã hóa thoại và tốc độ TRAU gồm bộ chuyển đổi mã hóa TC
    (Transcoder) và bộ tương thích tốc độ RA (Rate Adaptor) thực hiện chuyển đổi luồng 64
    kbit/s thoại và dữ liệu tương ứng từ MSC thành luồng thoại, dữ liệu có tốc độ thấp dùng cho
    giao diện vô tuyến tại BTS là 16 kbit/s.
    TRAU là một bộ phận của BTS nhưng cũng có thể đặt nó cách xa BTS và thậm chí trong
    nhiều trường hợp nó được đặt giữa MSC &BSC. Hình vẽ dưới đây mô tả các vị trí có thể đặt
    TRAU. Đối với các nhà khai thác như Vinaphone, Mobifone, TRAU thường được đặt gần
    MSC để tiết kiệm đường truyền dẫn đến BSC qua luồng E1 PCM30.
    [IMG]
    1.2.1.3. Hệ thống hỗ trợ giám sát OSS
    Tất cả mọi sự hoạt động, sự kiểm tra và sự bảo trì cho tất cả những thành phần mạng SS,
    BSS (BSC, BTS, TRAU) có thể được thực hiện ở trung tâm OMC, gọi là trung tâm vận hành
    và bảo dưỡng. OMC được liên kết với những phần tử SS và BSS thông qua một mạng dữ liệu
    gói X25.
    Hệ thống OMC bao gồm một hoặc nhiều OMC. Đối với riêng hệ thống hỗ trợ giám sát
    mạng GSM thì phân là OMC – R, OMC – S tương ứng với việc quản lý phần vô tuyến, phần
    chuyển mạch. Khi thêm các thành phần mạng gói như GPRS thì sẽ có thêm thành phần OMC
    – G, điều này được thể hiện trong hình vẽ các kết nối giữa thành phần mạng lõi
    GSM/GPRS/EDGE của Vinaphone.
    [IMG]
    Như ta thấy trên hình vẽ, ngoài các thành phần cơ bản trong cấu trúc hệ thống GSM theo
    chuẩn 3GPP đã trình bày, còn có rất nhiều các thành phần khác nhằm duy trì các dịch vụ
    người dùng ví dụ như hệ thống IN để quản lý các thuê bao trả trước, hệ thống SMSC để thực
    hiện các dịch vụ liên quan đến hệ thống nhắn tin, các điểm tập trung báo hiệu STP…
    Các kết nối giữa các thành phần MSC, TSC, STP, HLR được thực hiện trên nhiều giao
    diện E1, STM1 tùy theo dung lượng hướng kết nối. Trong đó luồng PCM 2Mbit/s là giao
    diện vật lý truyền thống mang các kênh thoại, báo hiệu C7 còn STM1 là giao diện quang
    được sử dụng gần đây do yêu cầu tăng về mặt dung lượng kết nối, ghép các luồng thoại và
    báo hiệu HSL trên cùng luồng STM1.
    Trong hình vẽ trên cũng đã có những thành phần mạng hệ thống GPRS, dưới đây sẽ trình
    bày rõ thêm về thành phần, chức năng các khối hệ thống GPRS.
    1.2.2. Cấu trúc, các thành phần chức năng hệ thống GPRS/EDGE
    Như đã trình bày ở phần tổng quan, về cơ bản hệ thống GPRS và EDGE được nâng cấp,
    bổ sung hệ thống chuyển mạch gói vào hệ thống GSM trước đây chủ yếu dành cho dịch vụ
    thoại. Điều này sẽ làm cho mạng PLMN tồn tại 2 hệ thống song song là chuyển mạch kênh
    cho thoại và chuyển mạch gói cho dữ liệu.
    Để nâng cấp từ hệ thống GSM lên hệ thống GPRS/EDGE cần bổ sung vào lõi thiết bị
    phần cứng mới là các thành phần quản lý chuyển mạch gói: nút hỗ trợ dịch vụ GPRS phục vụ
    (SGSN) và nút hỗ trợ dịch vụ GPRS cổng (GGSN). Hai nút này được gọi chung là các nút hỗ
    trợ GPRS (GSN) và thường là các Router có dung lượng lớn. Trong các GGSN có thêm cổng
    BG (Border Gateway) để chia sẻ các giao diện vật lý đến các mạng ngoài và đến
    mạng trục khi liên kết với hệ thống GPRS/EDGE của mạng khác, hãng thiết bị khác.
    Ngoài ra, cần bổ sung thêm PCU (Packet Control Unit) thường được nâng cấp ở BSC để
    xử lý việc truyền dữ liệu gói giữa MS và SGSN.
    Cùng với việc nâng cấp phần cứng cho triển khai mạng từ GSM lên GPRS/EDGEE, cần
    nâng cấp phần mềm xử lý dữ liệu gói tại BSC (kèm PCU), nâng cấp phần mềm BTS để xử lý
    phần vô tuyến cho chuyển mạch gói.
    Dưới đây là sơ đồ cơ bản của hệ thống GPRS kết hợp với GSM.
    [IMG]

    Chức năng các thành phần hệ thống GPRS/EDGE
    • Nút hỗ trợ GPRS phục vụ (SGSN)
    SGSN có các chức năng chính sau:
    o Quản lý việc di chuyển của các đầu cuối GPRS bao gồm việc quản lý vào
    mạng, rời mạng của thuê bao, mật mã, bảo mật của người sử dụng, quản lý vị
    trí hiện thời của thuê bao…
    o Định tuyến và truyền các gói dữ liệu giữa các máy đầu cuối GPRS. Các luồng
    được định tuyến từ SGSN đến BSC thông qua BTS để đến MS.
    o Quản lý trung kế logic tới đầu cuối di động bao gồm việc quản lý các kênh lưu
    lượng gói, lưu lượng nhắn tin ngắn SMS và tín hiệu giữa các máy đầu cuối với
    mạng.
    o Xử lý các thủ tục dữ liệu gói PDP (Packet Data Protocol) bao gồm các thông
    số quan trọng như tên điểm truy nhập, chất lượng dịch vụ khi kết nối với một
    mạng dữ liệu khác bên ngoài hệ thống.
    o Quản lý các nguồn kênh tài nguyên BSS.
    o Cung cấp các file tính cước dành cho dữ liệu gói.
    o Quản lý truy nhập, kiểm tra truy nhập các mạng dữ liệu ngoài bằng mật mã và
    sự xác nhận.
    • Nút hỗ trợ GPRS cổng (GGSN )
    Để trao đổi thông tin với mạng dữ liệu ngoài SGSN phải thông qua nút hỗ trợ GPRS
    cổng là GGSN. Về mặt cấu trúc GGSN có vị trí tương tự như Gate-MSC. Thông thường
    GGSN là một Router mạnh có dung lượng lớn. Chức năng chính của GGSN là:
    o Hỗ trợ giao thức định tuyến cho dữ liệu máy đầu cuối.
    o Giao tiếp với các mạng dữ liệu gói IP bên ngoài .
    o Cung cấp chức năng bảo mật mạng.
    o Quản lý phiên GPRS theo mức IP, thiết lập thông tin đến mạng bên ngoài.
    o Cung cấp dữ liệu tính cước (CDRs).
    • Khối điều khiển gói (PCU)
    Để nâng cấp mạng GSM lên GPRS, ngoài việc nâng cấp phần mềm ta cần bổ sung
    vào trong BSC một phần cứng gọi là khối điều khiển gói (PCU). PCU này có nhiệm vụ xử lý
    việc truyền dữ liệu gói giữa máy đầu cuối và SGSN trong mạng GPRS.
    PCU thực hiện việc quản lý các lớp MAC và RLC của giao diện vô tuyến, các lớp
    dịch vụ mạng của giao diện Gb (giao diện giữa PCU và SGSN ). Nó bao gồm phần mềm
    trung tâm, các thiết bị phần cứng và các phần nền tảng xử lý vùng (RPP). Chức năng của RPP
    là phân chia các khung PCU giữa các giao diện Gb và A-bis, chúng có thể được thiết lập để
    làm việc với một giao diện A-bis hay với cả hai giao diện A-bis và Gb.
    Tổng hợp số liệu mạng GSM/GPRS của Vinaphone
    Hệ thống mạng GSM/GPRS của Vinaphone về cơ bản triển khai đúng theo kịch bản
    như 3GPP khuyến nghị. Sơ đồ kiến trúc tổng quát mạng lõi được cho ở trong hình 1.5 như
    trên. Thống kê số liệu mạng lưới của Vinaphone tính đến hết năm 2008 được thể hiện như
    dưới đây:
    • Phần chuyển mạch:
    o MSC/VLR: 24 tổng đài MSC_TDM với tổng dung lượng 15.450K.
    o MSC Transit/Gateway: 4 TSC_TDM với tổng dung lượng 84.000 Erl.
    o Hệ thống HLR với dung lượng 22.000K.
    o Hệ thống chuyển tiếp báo hiệu:
    �� STP1-HNI: điểm chuyển tiếp báo hiệu tại khu vực miền Bắc và miền
    Trung;
    �� STP2-HCM: điểm chuyển tiếp báo hiệu tại khu vực miền Nam;
    • Hệ thống mạng PPS-IN:
    o Hệ thống nạp dữ liệu thẻ voucher: 27.000K;
    o Hệ thống SCP, SDP có dung lượng: 20.500K phần cứng, license phần mềm
    20.500K.
    • Các hệ thống cung cấp dịch vụ:
    o Hệ thống SMSC : 9.728K BHSM
    o Hệ thống WAP : 10K
    o Hệ thống VMS : 50K hộp thư
    o Hệ thống MMS : 20K BHMM
    • Hệ thống GPRS:
    o Hệ thống GPRS: 500K
    �� GGSN Hà Nội : 500K
    �� SGSN Hà Nội : 250K
    �� SGSN Hồ Chí Minh : 250K
    • Phần vô tuyến và vùng phủ sóng:
    o Số BSC : 206
    o Tổng số BTS: 7.335
    [IMG]
    • Trung tâm khai thác và bảo dưỡng OMC:
    Mạng Vinaphone hiện có 3 hệ thống quản lý khai thác và bảo dưỡng chính tại Hà Nội
    gồm có: OMC-R, OMC-S, OMC-G.
    o OMC-R: Giám sát hệ thống mạng vô tuyến, bao gồm hệ thống OMC-R của
    Motorola, Alcatel, Ericsson, Siemens-Nokia, Huawei.
    o OMC-S: Giám sát mạng chuyển mạch của Vinaphone, bao gồm hệ thống
    OMC-S của Nokia-Siemens và hệ thống OMC-S của Ericsson.
    o OMC-G: Giám sát hệ thống GPRS của Nokia-Siemens.
    1.2.3. Cấu trúc, các thành phần chức năng hệ thống 3G
    Cấu trúc hệ thống 3G sử dụng WCDMA của Vinaphone khi triển khai từ GSM ->GPRS/EDGE -> WCDMA pha đầu sẽ theo chuẩn 3GPP Release 4 như hình vẽ sau.
    [IMG]
    Trong kiến trúc mạng 3G này, các phần tử mạng được phân thành 3 thành phần: thiết
    bị người dùng (UE), mạng vô tuyến UMTS (UTRAN) và mạng lõi (CN). Trong đó, UE và
    UTRAN đều bao gồm các giao thức hoàn toàn mới, việc thiết kế chúng dựa trên nhu cầu của
    công nghệ vô tuyến WCDMA mới. Còn mạng lõi thì ngược lại, có các thành phần được kế
    thừa từ mạng lõi GSM, GPRS/EDGE trước đó.
    • Thiết bị người sử dụng (UE):
    Thiết bị UE được dùng để giao tiếp với người sử dụng và giao diện vô tuyến. Nó gồm
    hai thành phần:
    o Thiết bị di động (ME) là đầu cuối vô tuyến sử dụng để giao tiếp vô tuyến qua
    giao diện Uu.
    o Modul nhận dạng thuê bao UMTS (USIM) là một thẻ thông minh đảm nhận
    việc xác nhận thuê bao, thực hiện thuật toán nhận thực, và lưu giữ khoá mã
    mật, khoá nhận thực và một số các thông tin về thuê bao cần thiết tại đầu cuối.
    Các giao diện kết nối trong UE và giữa UE với UTRAN bao gồm:
    o Giao diện Cu: Đây là giao diện giữa thẻ thông minh USIM và ME. Giao diện
    này tuân theo tiêu chuẩn cho các thẻ thông minh.
    o Giao diện Uu: Đây là giao diện vô tuyến WCDMA. Uu là giao diện nhờ đó
    UE truy nhập được với phần cố định của hệ thống, và đây có thể là phần giao
    diện mở quan trọng nhất trong UMTS.
    • Mạng truy nhập vô tuyến (UTRAN)
    Mạng truy nhập vô tuyến UTRAN thiết lập tất cả các chức năng liên quan đến vô
    tuyến. Nó đứng ở vị trí tương tự như hệ thống BSS ở GSM. Nó gồm 2 thành phần:
    o Nút B: chuyển đổi dữ liệu truyền giữa giao diện Iub và Uu. Nó cũng tham gia
    vào quản lý tài nguyên vô tuyến.
    o Bộ điều khiển mạng vô tuyến (RNC): sở hữu và điều khiển nguồn tài nguyên
    vô tuyến trong vùng của nó, bao gồm các Nút B kết nối với nó. RNC là điểm
    truy nhập dịch vụ cho tất cả các dịch vụ mà UTRAN cung cấp cho mạng lõi.
    Các giao diện kết nối mạng UTRAN bao gồm:
    o Giao diện Iur: Giao diện mở Iur hỗ trợ chuyển giao mềm giữa các RNC từ các
    nhà sản xuất khác nhau, và vì thế bổ sung cho giao diện mở Iu.
    o Giao diện Iub: Giao diện Iub kết nối một Nút B và một RNC. Đây là giao diện
    mở hoàn thiện giữa bộ điều khiển và trạm gốc đã được chuẩn hoá. Giống như
    các giao diện mở khác, Iub thúc đẩy hơn nữa tính cạnh tranh giữa các nhà sản
    xuất trong lĩnh vực này.
    o Giao diện Iu: Giao diện này kết nối UTRAN tới mạng lõi. Giao diện Iu gồm:
    Iu-CS và Iu-PS tương ứng với các giao diện tương thích trong GSM là giao
    diện A (đối với chuyển mạch kênh) và Gb (đối với chuyển mạch gói). Giao
    diện Iu đem lại cho các bộ điều khiển UMTS khả năng xây dựng được
    UTRAN và CN từ các nhà sản xuất khác nhau.
    o Giao diện Iu-BC: Giao diện này kết nối RNC với miền quảng bá của mạng lõi
    là trung tâm quảng bá cell (Cell Broadcast Center). Giao diện Iu-BC được
    dùng để phát thông tin quảng bá tới người dùng di động trong cell cần quảng
    bá.
    • Mạng lõi (Core Network):
    Mạng lõi thực hiện chức năng chuyển mạch và định tuyến cuộc gọi, điều khiển các
    phiên truyền và kết nối dữ liệu đến các mạng ngoài.
    Các thành phần của mạng lõi gồm nhiều các thành phần kế thừa từ mạng lõi GSM và
    GPRS/EDGE bao gồm: MSC/VLR, G-MSC, SGSN, GGSN, HLR/EIR/AuC. Tuy nhiên, các
    thành phần MSC/VLR và HLR sẽ có các thành phần phần cứng và phần mềm thay đổi để phù
    hợp với việc quản lý cấp phát cho các dịch vụ thoại, dữ liệu khác nhau. Dưới đây ta sẽ tìm
    hiểu thêm về các thành phần mạng lõi MSC, MGW.
    Ở kiến trúc mạng 3G của Vinaphone, xuất hiện các MSC Softswitch thay cho việc có
    các MSC chuyển mạch kênh. Về căn bản, MSC Softswitch được chia thành MSC server và
    cổng các phương tiện (MGW: Media Gateway). MSC server này chứa tất cả các phần mềm
    điều khiển cuộc gọi, quản lý di động có ở một MSC tiêu chuẩn như trong GSM, tuy nhiên nó
    không chứa ma trận chuyển mạch. Ma trận chuyển mạch nằm trong MGW được MSC Server
    điều khiển và có thể đặt xa MSC Server.
    Báo hiệu điều khiển các cuộc gọi chuyển mạch kênh được thực hiện giữa RNC và
    MSC Server. Đường truyền lưu lượng thoại cho các cuộc gọi chuyển mạch kênh được thực
    hiện giữa RNC và MGW. Thông thường MGW nhận các cuộc gọi từ RNC và định tuyến các
    cuộc gọi này đến nơi nhận trên các đường trục gói. Trong nhiều trường hợp đường trục gói sử
    dụng Giao thức truyền tải thời gian thực (RTP: Real Time Transport Protocol) trên Giao
    thức Internet (IP). Từ hình 1.7 ta thấy lưu lượng số liệu gói từ RNC đi qua SGSN và từ
    SGSN đến GGSN trên mạng đường trục IP. Cả dữ liệu và thoại đều có thể sử dụng truyền tải
    IP bên trong mạng lõi. Đây là mạng truyền tải hoàn toàn IP.
    Tại nơi mà một cuộc gọi cần chuyển đến một mạng khác, PSTN chẳng hạn, sẽ có một
    cổng các phương tiện khác (MGW) được điều khiển bởi MSC Server cổng (GMSC server).
    MGW này sẽ chuyển tiếng thoại được đóng gói thành PCM tiêu chuẩn để đưa đến PSTN.
    Giao thức điều khiển giữa MSC Server hoặc GMSC Server với MGW là giao thức
    ITU H.248. Giao thức này được ITU và IETF cộng tác phát triển và có tên là điều khiển cổng
    các phương tiện (MEGACO: Media Gateway Control). Giao thức điều khiển cuộc gọi giữa
    MSC Server và GMSC Server có thể là một giao thức điều khiển cuộc gọi bất kỳ. 3GPP
    khuyến nghị sử dụng (không bắt buộc) giao thức điều khiển cuộc gọi độc lập kênh mang
    (BICC: Bearer Independent Call Control) được xây dựng trên cơ sở khuyến nghị Q.1902 của
    ITU �� Vinaphone hiện đang sử dụng giao thức này.
    Rất nhiều giao thức được sử dụng bên trong mạng lõi là các giao thức trên cơ sở gói
    sử dụng hoặc IP hoặc ATM. Tuy nhiên mạng phải giao diện với các mạng truyền thống qua
    việc sử dụng các cổng các phương tiện. Ngoài ra mạng cũng phải giao diện với các mạng SS7
    tiêu chuẩn. Giao diện này được thực hiện thông qua cổng SS7 (SS7 GW). Đây là cổng mà ở
    một phía nó hỗ trợ truyền tải bản tin SS7 trên đường truyền tải SS7 tiêu chuẩn, ở phía kia nó
    truyền tải các bản tin ứng dụng SS7 trên mạng gói (IP chẳng hạn). Các thực thể như MSC
    Server, GMSC Server và HSS liên lạc với cổng SS7 bằng cách sử dụng các giao thức truyền
    tải được thiết kế đặc biệt để mang các bản tin SS7 ở mạng IP. Bộ giao thức này được gọi là
    Sigtran.
    Dưới đây là hình vẽ cấu hình mạng lõi 3G của Vinaphone giai đoạn đầu mới triển
    khai. Vinaphone sử dụng hệ thống MSS (Mobile Softswitch Solution) của Ericsson làm hệ
    thống tổng đài và cổng phương tiện: như MSS-E2A/MGW-E2A, MSS-E2B/MGW-E2B,
    MSS-E4A/MGW-E4A. Ngoài ra, để truyền tải báo hiệu SS7 trên mạng gói với giao thức
    Sigtran, có các TSS1A, TSS2A, TSS2B cũng của hãng Ericsson đóng vai trò G-MSC kết nối
    giữa các trung tâm Hà Nội, Hồ Chí Minh, Cần Thơ, tương ứng với nó là các truyền tải lưu
    lượng giữa các G-MGW qua giao thức Nb trên luồng truyền dẫn IP.
    [IMG]
    Hiện nay, Vinaphone đã triển khai HSDPA trên nền kiến trúc 3G đã đề cập ở trên.
    Cấu trúc của hệ thống HSDPA về cơ bản tuân theo chuẩn 3GPP Release 5 và với hạ tầng
    mạng đã triển khai, Vinaphone đã cung cấp dịch vụ HSDPA với tốc độ 7,2 Mbps và đang
    trong tiến trình nâng cấp lên tốc độ 14,4 Mbps. Để triển khai HSDPA, Vinaphone chỉ cần
    nâng cấp phần mềm trên phần cứng đã hỗ trợ sẵn tại phần mạng UTRAN là RNC và NodeB
    để có thể sử dụng các kỹ thuật điều chế, mã hóa kết hợp với các phương thức điều khiển kênh
    truyền, lập biểu cung cấp dịch vụ tốc độ cao đường xuống.

Chia sẻ trang này