1. THÔNG BÁO TUYỂN ADMIN DIỄN ĐÀN 2013
    Tìm kiếm nhà trọ - Ở ghép
    THÔNG BÁO BÁN ÁO SPKT.NET CHO THÀNH VIÊN DIỄN ĐÀN


    HÃY TÌM KIẾM Ở ĐÂY TRƯỚC KHI ĐẶT CÂU HỎI
    {xen:phrase loading}

TRIẾT HỌC MÔN HỌC CẦN THIẾT HAY KHÔNG?

Thảo luận trong 'Thông tin môn học' bắt đầu bởi truongthinhs, 3 Tháng chín 2006.

  1. truongthinhs Giảng Viên

    Số bài viết: 533
    Đã được thích: 3
    Điểm thành tích: 0
    Sinh viên hay nói với tôi rằng học môn triết và các môn thuộc phạm trù này không cân thiết. Tuy nhiên tôi thì không đủ trình độ để nói rằng Triết học có cần với bạn hay không, nhưng với tôi thì Triết học luôn đóng một vai trò khá lớn trong việc nghiên cứu và hổ trợ trong cuộc sống. Sau đây tôi giới thiệu cho các bạn một số bài báo nhằm giúp các bạn thông tin thêm về triết học và cũng là tư liệu cho việc học môn này ở chương trình đại học và sau đại học.

    TRIẾT HỌC LÀ GÌ?

    [IMG]

    Sở dĩ khó định nghĩa triết học là vì có quá nhiều cái nhìn khác nhau về nội dung và sứ mệnh của triết học. Một mặt, nó được trình bày như là tri thức nền tảng về bản chất của vạn vật; mặt khác, như là sự hướng dẫn đến một đời sống tốt đẹp. Thời Trung Cổ triết học bị xem như con sen của thần học; thời nay, nhiều người vẫn xem nó như một trợ thủ cho khoa học xã hội và khoa học tự nhiên.

    Thuật ngữ “triết học” theo nghĩa đen là lòng yêu mến đối với sự minh triết, theo đó, triết học là một tham vọng tìm kiếm hơn là một cái kho chứa đựng tri thức tìm được và có thể truyền giao được. Socrates chỉ rõ rằng triết gia là người yêu mến sự minh triết, chứ không sở hữu nó.

    Socrates còn làm cho cung cách của triết gia thêm cụ thể khi nói rằng một đời sống không được khảo chứng thì không đáng sống và chúng ta nên theo đuổi mọi chứng lý đến bất cứ nơi đâu khi chưa ngã ngũ. Luôn luôn tìm kiếm, luôn luôn nghi vấn là thái độ căn bản trong sinh hoạt triết học. Nó cũng cho thấy một ý hướng luân lý của một đời sống tốt đẹp vốn là điều cần nhấn mạnh luôn mãi trong triết học.

    Aristotle trình bày nội dung của triết học bằng một khối lượng tác phẩm phong phú đồ sộ. Ông phân chia triết học thành những chuyên ngành khác nhau. Đứng trên tất cả là “đệ nhất triết học”, hay Siêu hình học, vốn là tri thức về những nguyên lý và những nguyên nhân tối hậu. Sự nhấn mạnh Siêu hình học như vậy cũng đóng vai trò chính yếu trong triết học.
    Vào thời hiện đại, bản chất của tri thức và cơ cấu của tâm trí được coi là quan trọng hàng đầu. Immanuel Kant(1), người đi đầu theo đường hướng này, phân biệt một bên là tri thức thực nghiệm có sẵn đối với khoa học tự nhiên và một bên là tri thức thuần lý chỉ có thể đạt được bằng triết học. Hiện nay người ta bàn cãi rất nhiều về vai trò tương đối của triết học và khoa học. Chính là với khoa học, chứ không phải triết học, mà người ta đi tìm tri thức căn bản. Một trong những trường phái triết học mạnh mẽ nhất, chủ nghĩa Thực chứng, cho rằng chỉ có những khoa học thực nghiệm mới là tri thức thực sự, và rằng triết học chỉ còn đóng vai trò giải nghĩa và phê phán các khoa học này.

    Quan điểm của tôi là, triết học là một loại tri thức đặc biệt có tính minh triết. Nó đem đến cho ta minh triết về bản chất con người, về thế giới, về Thượng Đế, về đời sống tốt đẹp và xã hội tốt đẹp. Nó đem ra ánh sáng thắc mắc căn bản về yếu tính của vạn vật và cứu cánh cuộc đời. Do đó, nó đứng trên khoa học, cả về lý thuyết lẫn thực hành, vì khoa học chỉ đề cập đến những vấn đề bên ngoài và kém quan trọng hơn.

    Theo quan điểm này, triết học là mối bận tâm của tất cả mọi người. Nó không phải là một ngành học đặc biệt, đòi hỏi phải tinh thông một phương pháp luận phức tạp, toán học cấp cao, hoặc máy móc tinh vi. Triết gia đích thực là một con chim lạ hiếm, đó là vì ông ta đã dâng hiến hết mình và suốt đời cho việc theo đuổi minh triết giữa một thế giới đầy sự xao lãng. Tuy nhiên mọi người có thể đáp lại tiếng gọi này, vì chỉ có hai điều duy nhất mà một người cần có để trở thành triết gia, đó là trí tuệ được Thượng Đế ban cho và một niềm khát khao muốn biết chân lý tối hậu.

    Những gì tôi vừa trình bày trên đây gợi lên những giải đáp cho tất cả các câu hỏi của bạn. Triết học không phải là một khoa học thực nghiệm theo nghĩa của Vật lý học, Hóa học, và Sinh lý học; mà nó là một khoa học thuần lý, và như toán học, nó phát triển bằng suy tư và phân tích có hệ thống. Nhà toán học lẫn nhà triết học đều không viện dẫn bất kỳ sự kiện đã quan sát được nào cả, ngoại trừ những sự kiện thuộc kinh nghiệm thông thường của mọi người. Cả hai đều tiến hành những khám phá của mình ngay tại bàn giấy; cả hai đều là những nhà tư tưởng xa-lông.

    Triết học không phải là một nghệ thuật, nhưng nó sử dụng các môn học lý thuyết, đặc biệt là nghệ thuật suy luận biện chứng. Nó không phải là thần học, vì trong khi thần học lấy niềm tin tôn giáo làm khởi điểm của mình thì triết học lại bắt đầu bằng sự phán đoán thực tế, nó nỗ lực làm rõ và đào sâu sự hiểu biết về một thế giới còn ẩn tàng trong phán đoán thực tế đó.

    Hoàn toàn không đến trước khoa học, triết học đến sau khoa học. Mặc dù, như lịch sử cho thấy, sự tra hỏi triết lý bắt đầu từ rất lâu trước thí nghiệm khoa học, nó cũng sẽ tiếp tục lâu dài sau khi chúng ta đã đạt đến những giới hạn của tri thức thực nghiệm. Các khoa học thực nghiệm đã hoàn thiện rồi, và có những biểu hiện cho thấy ở những thời điểm nào đó chúng đã đi xa đến mức có thể. Nhưng triết học vẫn còn ở tuổi ấu thơ của nó. Sự phát triển đầy đủ của nó nằm ở nhiều thiên niên kỷ phía trước.</span>

    (1) Immanuel Kant 1724 – 1804): Triết gia Đức, là người làm đảo lộn đường hướng triết học Tây phương với tác phẩm Critique of Pure Reason (“Phê phán Lý tính thuần túy”; 1781)

    SO SÁNH TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY

    Sao giờ lắm sách cổ học như kinh dịch, nho lão, tôn tử, đạo lão... thế nhỉ? Liệu hoài cổ quá có hay lắm không? Luận sâu sắc về lời Mác dạy có khi còn ít hơn cả luận Mạnh Tử thời chiến quốc ấy ?

    Topic này mong các bạn chia sẻ những quan điểm về triết học, triết lý Đông - Tây, từ đó quyết định xem cân đối kiến thức sao cho hợp lý, hiệu quả cho cuộc sống.

    - Thứ nhất, ta sẽ phân biệt đâu là Đông, đâu là Tây.

    - Thứ hai, ta so sánh bối cảnh xã hội ra đời, pt triết học phương Đông, phương Tây

    - Thứ ba, ta so sánh đối tượng nghiên cứu của triết học Đông, Tây

    - Thứ tư, ta so sánh phương pháp nhận thứ của 2 nền triết học đó

    - Thứ năm, những nhận xét về vận dụng hai dòng kiến thức đó sao cho hợp lý

    Phương Đông
    để chỉ các nước châu Á các nên văn minh trên ba lưu vực sông lớn: sông Nin, sông Hằng, sông Hoàng Hà, chủ yếu là Ai Cập, ả rập, ấn độ và Trung Hoa. Hầu hết các nền tôn giáo lớn của thế giới đều xuất hiện ở đây.


    Phương tây
    Phương Tây chủ yếu là các nước Tây âu như Anh, Pháp, Đức, ý, áo, Tây Ban Nha... Ngày nay chúng ta gộp cả Mỹ vào.

    Đặc điểm hai loại hình cơ sở xã hội Đông - Tây là tĩnh, ổn định đối nghịch với động, biến động nhanh. Triết học lỏng lẻo, mềm dẻo của Đông đối lại là triết học chặt chẽ, thống nhất thành hệ thống của Tây. Triết học phương Tây đi từ gốc lên ngọn (từ thế giới quan, vũ trụ quan, bản thể luận... từ đó xây dựng nhân sinh quan con người;) trong khi triết học phương Đông đi từ ngọn xuống gốc (từ nhân sinh quan, vấn đề cách sống, lối sống sau đó mới là vũ trụ quan, bản thể luận...). Đó là 2 nét chính của hai nền triết học Đông - Tây.

    Nếu như ở phương Tây, triết học được xây dựng bởi chủ yếu là các nhà khoa học, gắn liền với các thành tựu khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên thì ở phương Đông, triết học gắn với những hiền triết - nhà tôn giáo, nhà giáo dục đạo đức, chính trị-xã hội.

    Vậy nên đặc điểm chủ đạo là các nhà Triết học phương Tây thiên về giải thích thế giới theo nhiều cách còn mục đích chính của phương Đông là cải tạo thế giới gồm có: ổn định xã hội, giải thoát cho con người và làm sao cho con người hoà đồng với thiên nhiên.

    Nguồn gốc là do ở phương Đông, thượng tầng kiến trúc ra đời trước và thúc đẩy dự phát triển của hạ tầng cơ sở, còn ở phương Tây hạ tầng cơ sở quyết định đến thượng tầng kiến trúc.

    Về đối tượng nghiên cứu của triết học Đông, Tây

    Đối tượng của triết học phương Tây rất rộng gồm toàn bộ tự nhiên, xã hội, tư duy mà gốc là tự nhiên. Nó ngả theo hướng lấy ngoại (ngoài con người) để giải thích trong (con người), nói chung xu hướng nổi trội là duy vật.

    Trong khi đó phương Đông lấy xã hội, cá nhân làm gốc là tâm điểm để nhìn xung quanh. Do đó đối tượng của triết học phương Đông chủ yếu là xã hội, chính trị, đạo đức, tâm linh và do vậy xu hướng là hướng nội, lấy trong để giải thích ngoài. Đa số trường phái thiên về duy tâm.

    Về phương pháp nhận thức của 2 nền triết học đó

    Triết học phương Tây ngả về tư duy duy lý, phân tích mổ xẻ còn phương Đông thì ngả về dùng trực giác.

    Cái mạnh của phương Tây là cho khoa học, kỹ thuật và về sau là công nghệ phát triển... và nhận thức luôn hướng đến nhận thức cái chân lý vô hạn cùng. Phương Tây đi gần mãi đến chân lý qua hàng loạt những trừu tượng, khái niệm, quy luật... của toàm thể vũ trụ, liên tiếp đi từ cấp độ bản chất thấp đến mức độ bản chất cao hơn... cũng do vậy họ có xu hướng cô lập hoá , cách ly hoá, làm mất đi tính tổng thể.

    Triết học phương Đông ngược lại thường dùng trực giác, tức là đi thẳng đến sự hiểu biết, vào cái sâu thẳm bản chất của sự vật, hiện tượng. Trực giác giữ được cái tổng thể mà tư duy phân tích, mổ xẻ đạt đến. Nhưng nó có tiềm tàng nhược điểm là không phổ biến rộng được. Trực giác mỗi người mỗi khác. Và không phải lúc nào trực giác cũng đúng. Thực ra 2 biện pháp kết hợp lẫn nhau, nhưng ở đây nói về thiên hướng.

    Triết học phương Tây có xu hướng tách chủ thể với khách thể để nhận thức cho khách quan còn triết học phương Đông lại cho rằng người nhận thức và đối tượng nhận thức cùng hoà hợp vào nhau (đặt cùng trong 1 hệ quy chiếu.) thì nhận thức sẽ dễ dàng.
    Phương tiện nhận thức của triết học phương Tây là khái niệm, mệnh đề, biểu thức lôgíc để đối tượng mô tả rõ ràng, thống nhất hơn thì trong triết học phương Đông lại là ẩn dụ, liên tưởng, hình ảnh, ngụ ngôn... để không bị lưới giả về nghĩa do khái niệm che phủ. Nhưng điểm yếu của triết học phương Đông chính là sự đa nghĩa, nhập nhằng khác biệt khi qua các phân tích khác nhau.

    Triết học phương Đông biến đổi tuần tự thay đổi dần về lượng, dù thay đổi bao nhiêu vẫn giữa lấy phần gốc phần lõi làm nền, không rời xa gốc đã có.

    Triết học phương Tây thay đổi theo hướng nhảy vọt về chất, nên càng tiến hoá càng phong phú hơn, xa rời gốc ban đầu. Thậm chí có xu hướng cái sau phủ định hoàn toàn cái ở giai đoạn trước.

    Trong phép biện chứng giải thích quy luật của sự vận động - phát triển cũng có nét khác biệt. Phương Đông nghiêng về thống nhất hay vận động vòng tròn, tuần hoàn. Phương tây nghiêng về sự đấu tranh và vận động, phát triển theo hướng đi lên.

    Một nét nữa của triết học Tây - Đông là theo thống kế thì triết học phương Tây thiện về hướng ngoại, chủ động, tư duy lý luận, đấu tranh sống còn, hiếu chiến, cạnh tranh, bành trướng, cá thể, phân tích, tri thức suy luận, khoa học, tư duy cơ giới, chú ý nhiều đến thực thể...

    Khuynh hướng nổi trội của phương Đông lại là hướng nội, bị động, trực giác huyền bí, hoà hợp, quân bình chủ nghĩa, thống nhất, hợp tác, giữ gìn, tập thể, tổng hợp, minh triết, tôn giáo, tâm lý, tâm linh, tư duy hữu cơ, chú ý nhiều tới quan hệ...

    TRIẾT HỌC VÀ CUỘC SỐNG

    1. Đại hội Đảng lần thứ VI đã nêu lên một vấn đề hết sức quan trọng là sự cần thiết đổi mới tư duy, trước hết đổi mới tư duy về kinh tế. Nhưng trong thực tế sau 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội, tình hình chưa thấy sáng sủa hơn, nhiều bế tắc về kinh tế chưa có khả năng gỡ ra hoặc cách giải quyết có tính cục bộ, rời rạc, chồng chéo, mâu thuẫn với nhau. Nhiều người trong chúng ta đã rút ra kết luận: cần thiết có sự đổi mới nhũng quan điểm cơ bản về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, mà không chỉ là đổi mới tư duy về kinh tế. Để đổi mới những nhận thức về chủ nghĩa xã hội khoa học thì triết học Mác - Lênin đóng vai trò hết sức quan trọng.


    Trước đây, C.Mác đã nói: "Vũ khí vật chất của triết học là giai cấp vô sản cũng giống như vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản là triết học" (1). Vấn đề đặt ra cho chúng ta ngày nay là làm sao cho triết học Mác - Lênin thật sự trở thành vũ khí tinh thần của nhân dân Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội thắng lợi. Trong vô số những sai lầm đã gây tác hại to lớn trong hơn 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta có một nguyên nhân quan trọng là triết học chưa làm được vai trò vũ khí tinh thần cho quần chúng lao động nước ta. Nó xa rời thực tiễn và không coi nhân dân lao động, giai cấp công nhân Việt Nam với lao động sáng tạo của họ là vũ khí vật chất của triết học.


    Chúng ta đã giảng dạy, tuyên truyền triết học Mác-Lênin như những kiến thức sách vở của lịch sử để lại, một môn học khó, bắt sinh viên các ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội học thi mà họ không thấy lợi ích thực tế học để làm gì. Còn các nhà lãnh đạo chính trị thì không cần đến triết học khi ban hành các quyết định quan trọng về đường lối, chính sách, hoặc chỉ sử đụng triết học như một công cụ để minh giải cho tính đúng đắn, tính khoa học của những quyết định đó.


    Trong một thời gian dài, các nhà triết học của chúng ta đã áp dụng các nguyên lý của triết học Mác - Lênin một cách giáo điều, đem thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam khuôn theo những công thức có sẵn trong sách kinh điển. Những quan điểm triết học từ đó không còn là vũ khí tinh thần của quần chúng cách mạng mà trở thành những sợi dây tinh thần trói buộc, cầm tù, cản trở sự sáng tạo của họ.


    Nhưng ngày nay lại chính cuộc sống sinh động trên đất nước Việt Nam đang thúc đẩy chúng ta phải phá bỏ những xiềng xích tinh thần đó, phải phát triển sáng tạo triết học Mác-Lênin vì yêu cầu của thực tiễn mà cũng vì sự tồn tại của bản thân triết học. Bằng không, quần chúng nhân dân, thông qua những con đường khác nhau, họ tự đi tìm cho họ một lý luận mới. Điều đó được thể hiện rõ ở một số người hiện nay, họ không còn tin vào triết học mác xít, mà đi tìm một triết lý mới, hoặc là chủ nghĩa thực dụng, hoặc là chủ nghĩa duy tâm tôn giáo.


    2. Đúng như C.Mác và Ph.ăng ghen đã nói, thực tiễn thúc đẩy sự phát triển của khoa học hơn nhiều lần. Nhưng chúng ta cũng không thể quan niệm đơn giản là sự phát triển của thực tiễn sẽ tự phát dẫn tới sự phát triển tương ứng của lý luận triết học, theo quan điểm thô sơ, cứng nhắc về nguyên lý tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội. Điều đó có nghĩa là không phải cứ đi vào thực tiễn là có thể đổi mới tư duy.


    Chính tất cả sự phức tạp của cuộc sống là ở tính độc lập tương đối của ý thức đối với tồn tại, do đó có sự tách rời giữa lý luận và thực tiễn, hoặc có sự phản ánh sai, xuyên tạc, lạc hậu hơn thực tiễn, tất nhất thường cũng chỉ là sự phản ánh gần đúng, từ đó có thể dự đoán được tương lai.


    Chỉ có sự phản ánh đúng mới tìm ra quy luật vận động của sự vật, từ đó mới có tác động trở lại đúng đắn, cải tạo được thực tiễn.


    Như C.Mác nói: "Các nhà triết học chỉ biết cách giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là ở chỗ cải tạo thế giới". Tôi cho rằng, ở đây C.Mác nói đến những cách giải thích không đúng về thế giới, bởi vì, nếu giải thích đúng sự nảy sinh, vận động, phát triển của một sự vật, hiện tượng nào đó thì tức là đã tìm được quy luật vận động của nó. Tìm ra quy luật là bước đầu hết sức quan trọng để có thể tác động vào việc cải tạo sự vật. Tất nhiên việc vận dụng quy luật như thế nào để tác động vào sự vật còn là vấn đề khó khăn nhưng nhận thức đúng là một khâu quyết định đối với việc cải tạo thế giới khách quan.


    Nhưng từ thực tiễn cuộc sống, để có thể có sự phản ánh đúng, rút ra những kết luận về nhận thức chính xác, bổ sung, phát triển lý luận vốn có lại không đơn giản. ở đây đòi hỏi phải có năng lực tư duy trừu tượng, biết tổng kết, rút ra từ trong thực tiễn những khái quát lý luận đúng đắn.


    Chúng ta đã phạm sai lầm giáo điều, duy ý chí chủ quan trên một số vấn đề lớn của công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội 10 năm qua. ở nhiều địa phương những thực tiễn thất bại đã diễn ra đau đớn, kẻo dài, mà tại sao đến nay chúng ta mới như bừng tỉnh và đặt vấn đề phải "đổi mới tư duy?". Bởi vì, dù đã có thực tiễn nhưng nếu không tổng kết, rút kinh nghiệm một cách đúng đắn, thiếu tư duy lôgíc khái quát thì chúng ta vẫn không thể rút ra được những kết luận lý luận đúng đắn. Điều đó cũng có nghĩa là: đi vào thực tiễn sản xuất, chiến đấu đối với các nhà triết học là hết sức quan trọng để phát hiện vấn đề, nhưng để nâng từ những nhận xét lẻ tẻ, cảm tính, rời rạc thành những kết luận lý luận có giá trị thì còn là khoảng cách.


    Ở đây cũng có nhiều nguyên nhân tác động đến sự phát triển tư duy triết học:


    Những thực tiễn sai lầm, thất bại trước đây bị che dấu, nay bộc lộ ngày càng rõ, tiếng kêu cứu từ cấp thấp lên đến cấp cao, từ một vài nơi, một vài ngành đến cả nước. Thực tiễn đó làm chúng ta ngày càng tỉnh ngộ, các nhà lý luận càng thấy rõ những sai lầm trong quan điểm lý luận đã đề ra.
    Do trình độ nhận thức lý luận, trình độ tổng kết có hạn, chưa có phương pháp tư duy đúng. Đây là hạn chế của bản thân đội ngũ cán bộ lý luận.
    Do thiếu tự do tư tưởng trong sinh hoạt khoa học, các nhà triết học ít được bàn luận công khai, dân chủ về những quan điểm cơ bản của Đảng, làm rõ đúng sai, nói lên sự thật. Về phía cán bộ, đảng viên có sự thiếu dũng cảm, không dám bảo vệ chân lý. Mặc dù đã nhìn thấy sai lầm, nhưng cơ chế và uy quyền đè bẹp họ. Hiện nay, bắt đầu có sự giải toả tư tưởng cho cả cán bộ lý luận và cán bộ thực hành.

    3. Cuộc sống đòi hỏi triết học phải có sự phát triển phù hợp để giải thích sự vận động của nó một cách đúng đắn và thúc đẩy bước chuyển hoá nhanh hơn. Ở đây có vai trò to lớn của các nhà triết học, các nhà lý luận xuất sắc với sức mạnh trí tuệ, với năng lực tư duy trừu tượng đặc biệt, xuất chúng của họ.


    Thời đại nào cũng đòi hỏi và làm nảy sinh những cá nhân, anh hùng của thời đại ấy. Trong hoạt động lý luận ở nước ta cũng đòi hỏi có những nhà lý luận, nhà triết học xuất chúng để đưa nền triết học Việt Nam đi lên. Vì ở đây, khác với trong sản xuất thực tiễn, không phải là số cộng giản đơn những kiến thức của số đông mà là sự thay đổi về chất lượng, những bước nhảy vọt về nhận thức của cá nhân các nhà lý luận có tài. Những bộ óc thông minh đóng vai trò quan trọng, họ nhìn thấy trước mọi người, dựa trên những thông tin, tư liệu, kiến thức lẻ tẻ, rời rạc của đa số, để hình thành cái gì mới mẻ về lý luận, tư tưởng, quan điểm, giúp cho sự biến đổi nhanh chóng của thực tại.


    Trong hoạt động lý luận, triết học cần có những sáng kiến, phát minh như trong khoa học kỹ thuật, những giá trị tư tưởng mới do những bộ óc thông minh đúc kết lại.


    Có đồng chí cho rằng, trong thời đại chúng ta ngày nay không thể trông chờ sự xuất hiện các lãnh tụ như Mác, Ăng ghen, Lênin, Hồ Chí Minh để đưa cách mạng Việt Nam đi vào quỹ đạo đúng đắn, mà phải là sự đóng góp của trí tuệ tập thể, thông qua sự thảo luận, bàn bạc. Nhưng tôi muốn lưu ý rằng, với đặc điểm của hoạt động tư duy lý luận, chúng ta phải chú ý đến vai trò cá nhân của những nhà lý luận thông minh, xuất sắc. Sự hoạt động trí tuệ là hoạt động cá nhân với điều kiện có tự do tư tưởng và có sự trao đổi thông tin rộng rãi, vì vậy cần trân trọng những cá nhân có tài.


    4. Triết học Mác - Lênin là thế giới quan và phương pháp luận khoa học để nghiên cứu, giải thích thế giới. Đó là điều chúng ta vẫn thường nói nhưng lại chưa làm đúng.


    Triết học Mác - Lênin chỉ giúp chúng ta những phương hướng để hình thành các kiến giải cho các vấn đề cuộc sống đang đặt ra phải giải đáp một cách khoa học. Nhưng nó không cung cấp cho chúng ta những giải đáp có sẵn về các vấn đề cụ thể.


    Như C.Mác đã nói: "Việc xây dựng tương lai và việc tuyên bố dứt khoát về những giải đáp có sẵn trong thời gian tới, đó không phải là công việc của chúng tôi"(2). Chính chúng ta đã phản lại Mác - Ăng ghen khi áp dụng giáo điều các quan điểm lý luận của các ông vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.


    Vậy phải nắm cái gì trong triết họe Mác - Lênin? Đó là thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật. Chúng ta đứng trên thế giới quan duy vật và vận dụng phương pháp biện chứng duy vật để nghiên cứu, phân tích thực tế lịch sử cụ thể của Việt Nam và tự mình rút ra những giải đáp cho thực tiễn Việt Nam.


    Biện chứng duy vật là vận động phát triển không ngừng. Theo quy luật khách quan đó, không có nguyên lý cụ thể nào của Mác - Ăng ghen đã nêu lên lại là chân lý cuối cùng đã hoàn thiện đầy đủ mà không cần bổ sung, phát triển hay thay đổi. Không có gì tồn tại vĩnh viễn ngoài quy luật của sự vận động, phát triển, thay đổi không ngừng của cả vật chất và sự phản ánh của vật chất là ý thức, lý luận, triết học.


    Do đó những kết luận cụ thể của Mác - Ăng ghen - Lênin về chủ nghĩa cộng sản không phải là những giới hạn cuối cùng của sự nhận thức, ngược lại cuộc sống đang đòi hỏi chúng ta cần có sự phát triển, đổi mới không ngừng.

    --------------------------------------------------------------------------------


    (1) C Mác. Lời nói đầu của Phê phán triết học pháp luật của Heghen. Nxb Sự thật, 1962. tr. 27.
  2. ronun Guest

    Số bài viết: 0
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
  3. truonghai Guest

    Số bài viết: 0
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Mình nghĩ chúng ta không thích môn triết ở chỗ là nó dài và thiếu thực tế.Nhưng không phải muốn học được triết và ứng dụng triết thì đó là một vấn đề, chúng ta không thích triết vì chúng ta không đủ trình độ để hiểu triết và vận dụng được triết. Triết học không phải là môn học thuộc lòng như chúng ta nghĩ đâu!Triết học không thể thiếu với những vĩ nhân thay đổi lịch sử thế giới đó là tầm quan trọng của triết học.
  4. superman Guest

    Số bài viết: 0
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Thật sự thì không cần tới vĩ nhân mới thấy triết là cân thiết đâu. Chỉ cần bạn học ở trình độ đại học thôi, những cái gì bạn đang học và nghiên cứu đều liên quan tới triết. Từ những đồ án môn học đến những kiến thức chuyên ngành, kiến thức cơ bản đều tất cả dựa trên cơ sở triết học. Thật sự ở nước ngoài , sinh viên đói với môn triết là 1 sự say mê, còn ở Vn môn triết là một môn mà không phải sinh viên nào cũng thích mà nói gần hơn là hầu hết sinh viên đều ghét môn triết. Tại sao? Một đội ngũ giáo viên truyền đạt môn triết với phương pháp giảng dạy như thế nào, đưa ra những vấn đề ở những tầm quá vĩ mô mà sinh viên năm 1 năm 2 mới bước vào đời chưa nắm được. tại sao các giáo viên không truyền đạt cho sinh viên nhưng gì liên quan đến triết 1 cách gần gũi hơn với cuộc sống của sinh viên? Còn sinh viên học như thế nào? Học 1 cách thụ động máy móc chỉ mong sao cho đủ điểm để qua hoặc sẽ có gắng học môn khác để gỡ gạt điễm. Như vậy càng ngày chúng ta càng đẩy môn triết đi xa những sinh viên mà nhưng kiền thức này vô cùng cần thiết.
    Nói gì cho xa xôi, sinh viên làm đề tài tốt nghiệp không biết viết cả cơ sở lý luận, cầu trúc và tính lý luận thực tiển... của đề tài, thì thử hòi có xứng đáng là kỷ sư ra trường nữa hay không?????
  5. dangkhoa86 Guest

    Số bài viết: 0
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Tại sao sinh viên nước ngoai tốt nghiệp ra trường lại giỏi hơn sinh viên ta ? Tại sao CLinton, Bush, hay Tony Clain không qua 1 lớp chính trị nào mà có thể giữ những chức vụ có thể coi là quyết định thế giới. Vì họ không có những giờ học vô bổ như thế, họ chú tâm vào nghiên cứu chuyên môn của mình và có những lớp về chính trị triết học riêng biệt, tự do, nếu thích có thể đăng ký học, không hề bắt buộc và có những trường ĐH đào tạo riêng biệt những nhà chính trị, tha hồ cho học triết học. Không cần nói nhiều, thực tế đã chứng minh
  6. thanlan New Member

    Số bài viết: 560
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Mục đích của môn này thì cũng thật là tốt đẹp đấy , nhưng hình như nó có tác dụng ngược lại đối với sv , nhất là bọn sv kỹ thuật - kinh tế , , họ (và cả tôi) học để đối phó , học để điểm danh, học để thi cho qua , môn này không đủ hấp dẫn để lôi cuốn sv , mặc dù nó chiếm tới 20% tổng số tín chỉ .
  7. dangkhoa86 Guest

    Số bài viết: 0
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Chúng ta không thể làm việc mà chúng ta không yêu thích, sao nhà trường không linh động, hãy để đó như một môn học tự chọn. Nếu thích thì học, không thích thì học một môn khác mình thích để thay thế, như thế vừa hỗ trợ chuyên môn của sinh viên đồng thời tạo phấn khích học tập nơi sinh viên. Thời buổi này là thời đại số, internet, nên không cần phải tuyên truyền hay phổ cập điều gì cả. Khi tiếp xúc với thế giới số, nói thế thì hơi trừu tượng quá, gần hơn là khi vào WTO, tức thì sinh viên (những người chủ tương lai đất nước) sẽ tự nhận thức thanh lọc và nhận ra đâu là đúng, đâu là sai, không cần những "phạm trù", "tư tưởng" của Triết học phải giải thích. Anh em có đồng ý với ý kiến của tiểu đệ không ?
  8. HiepKhachHanh Member

    Số bài viết: 507
    Đã được thích: 1
    Điểm thành tích: 18
  9. truongthinhs Giảng Viên

    Số bài viết: 533
    Đã được thích: 3
    Điểm thành tích: 0
    <span style="color:#3333FF">Triết cần thiết như thế nào đối với các nhà khoa học? Không phải chỉ có sinh viên VN mới học mà ở các nước sinh viên đều phải học môn này. Xin giới thiệu bạn 1 bài viết từ tạp chí Triết học:

    <span style="color:#FF0000"><span style="font-size:18pt;line-height:100%">Khoa học hiện đại và triết học</span></span>


    Trong bài "văn hoá khoa học và văn hoá nhân văn" trên Tạp chí Văn học, số 2 năm 1994, tác giả Hoàng Đình Phu đã viết như sau: "Khoa học chỉ là một kiểu nhận thức, chứ không phải là kiểu nhận thức duy nhất... còn có những kiểu nhận thức... dựa vào trực giác, vào suy tư, vào các hoạt động nội tâm". Paul Feyer, nhà triết học Mỹ cũng đưa ra một luận đề: đường vào khoa học không chỉ là một tuyến tính mà là "hỗn loạn" (anarchiste), là "đa nguyên".

    Trong lịch sử khoa học, người ta coi phát minh về lý thuyết tương đối của A.Einstein là sự mở đầu cho khoa học hiện đại, bởi vì từ đây con người khám phá ra một thế giới mới và gắn liền với nó là một phương pháp khoa học hoàn toàn khác về chất so với khoa học cổ điển. Trong cuốn Cơ cấu cách mạng khoa học, nhà triết học người Mỹ Thomas Kuhn cho rằng mỗi thời kỳ phát triển bình thường của khoa học đều có một hệ thống chuẩn tương ứng: hiện nay là hệ chuẩn kiểu Einstein, trước đó là hệ chuẩn kiểu Newton. Nhà triết học người Pháp G.Bachelar lại cho rằng mỗi giai đoạn phát triển của khoa học là một sự gần đúng: lý thuyết về vạn vật hấp dẫn của Newton là sự gần đúng thứ nhất, còn lý thuyết tương đối của Einstein là sự gần đúng thứ hai.

    Vào đầu thế kỷ XX, Einstein cùng với Planck đã làm một cuộc “cách mạng khoa học", đưa đến một hệ thống giá trị mới chi phối cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Sự khám phá một quy mô lượng tử không thể nhận biết được bằng giác quan với những định luật hoàn toàn khác với những định luật có thể nhận biết được trong đời sống hàng ngày. Đó là đóng góp quan trọng nhất của khoa học hiện đại vào tri thức nhân loại. Tư tưởng này đã đặt nền móng cho một cách nhìn mới về thế giới: thế giới các sự kiện lượng tử hoàn toàn khác hẳn với thế giới mà cách đây hơn một thế kỷ do Newton khám phá.

    Sự kiện lượng tử không thể tách ra được như một vật thể đã chứng tỏ rằng thế giới, đó còn là thế giới của những mối liên quan với nhau giữa mọi sự vật, của các quan hệ, các tác động qua lại. Hơn nữa, thực thể lượng tử vừa là hạt, vừa là sóng. Ở đây tính liên tục và tính gián đoạn cùng tồn tại hài hoà. Mặc dù, năng lượng biến đổi theo những bước nhảy, nhưng thế giới nhìn được của chúng ta vẫn là thế giới của tính liên tục. Thế giới mới là thế giới của sự sôi động thường xuyên của sinh và huỷ, của chuyển động với những tốc độ kinh khủng. Năng lượng tập trung ở quy mô vô cùng nhỏ nhưng có thể đạt tới những giá trị rất lớn, là điều khó có thể hình đung được trong cách suy nghĩ của chúng ta.

    Đối vời chúng ta, hình như các hạt lượng tử liên hệ với nhau bằng một liên thông bí ẩn, bởi vì chúng vượt qua hàng rào không gian và thời gian. Hai Photon tương tác với nhau không phải theo cách những hạt có thể hình đung trong một không gian Newton, tức như những tiểu thể. Đối với nhà vật lý học lượng tử, những từ như "hạt", "quỹ đạo"... đều là nghi đề. Về chủ nghĩa bất định, ở đây không nên hiểu đó là một lý thuyết về sự mù mờ, là một chủ nghĩa bất khả tri, mà chính là để nói rằng hạt lượng tử biểu diễn trong không gian và thời gian (như trong vật lý học Newton), do vậy, hiển nhiên là không thể hình dung nó bằng trí tuệ được, tức là vượt qua khuôn khổ của một lập luận logic của vật lý học cổ điển mà loài người đã quen dùng. Cho nên, dường như muốn nắm được nó, nó lại trượt khỏi tay ta. Và đường như nhà vật lý muốn phát triển lý thuyết của mình nhưng lại không sao lý giải được chính xác từ vựng của mình. Richasd Fpynman, trong cuốn Bản tính vật lý, đã băn khoăn viết rằng: "Tôi rất muốn khai phá thế giới mà không tìm đâu ra được định nghĩa".

    Cho đến thế kỷ XIX, vật lý học Newton là một chủ nghĩa quyết định bất di bất dịch: vạn vật đều gắn bó với nhau, những nguyên nhân như nhau bao giờ cũng sinh ra kết quả như nhau. Đó là những quy luật "thép" chi phối sự tiến hoá không sao cưỡng lại được. Nhưng bên cạnh những quy luật ấy, những cái tất yếu ấy, như một dòng nước xoáy cái ngẫu nhiên cứ ùa vào tư tưởng khoa học. Những quy luật chồng chéo lên nhau trong tự nhiên nhưng vẫn chừa nơi vùng vẫy cho cái ngẫu nhiên. Sự tiến hoá của sinh quyển của chúng ta phải chăng là kết quả của một dự án phức tạp diễn ra theo một kịch bản đã được thiết kế chặt chẽ từ trước, cho nên ta chỉ còn nhiệm vụ mô tả và phân tích nó. Hoặc không phải thế, mà đó là kết quả của một chuỗi sự kiện ngẫu nhiên, giờ đây vật lý học cổ điển không còn khả năng cho ta một lời giải đáp.

    Vì sức sống của cái ngẫu nhiên nằm trong thực tại, cho nên thực tại bao chứa cái không thể tiên đoán, cái bấp bênh. Và đó chính là nền tảng của lý thuyết hỗn.độn. Như vậy, bản thân thực tại là hỗn độn, chứ không do sự bất cập của hệ thống tri thức của chúng ta, hay không do sự không hoàn hảo của thiết bị kỹ thuật của chúng ta. Trong thế giới hỗn độn, đầy ngẫu nhiên, nhiều dự đoán gần như không sao thực hiện được bởi vì một nguyên nhân bé có thể dẫn đến những hiệu quả to , cực to mà con người dường như không tưởng tượng nổi. Nhà khí tượng học người Mỹ Edward Lorenz đã đưa ra một hình ảnh nổi tiếng để nói về cáải không thể dự đoán được của con người. Đó là cái đập cánh của một con bướm ở vùng Amazone có thể gây nên một trận cuồng phong ở bờ biển Bretagne.

    Cùng với lý thuyết về hỗn độn, lý thuyết về phức hợp cũng không kém phần bí ẩn. Nhà triết học người Pháp Edgar Morin cho rằng "Tín điều của một thứ chủ nghĩa quyết định đã sụp đổ bởi vì vũ trụ không bị chi phối bởi chủ nghĩa quyền tuyệt đối của trật tự mà còn bởi mối quan hệ dialogique giữa trật tự, rối loạn và tổ chức". Phức hợp như vậy, một mặt, là sự liên kết, và mặt khác, là sự chấp nhận thách thức của sự không chắc chắn. Nguyên lý dialogique đã nối hai nguyên lý hay hai khái niệm đối kháng nhau, nhưng không tách rời nhau và đều cần thiết để hiểu rõ thực tại. Niels Bohr cho rằng hạt vật lý vừa là hạt, vừa là sóng. Pascal viết: "Đối nghịch với sự thục không phải là sai lệch mà là một sự thực đối nghịch”. Bohr nói rõ hơn: “Sự ngược lại của sự thực thông thường là một sai lệch vô lý, nhưng sự trái ngược của một sự thực sâu sắc thì bao giờ cũng là một sự thật sâu sắc .

    Rõ ràng, khoa học hiện đại đã tạo dựng một quang cảnh mới và đã đóng lại thời kỳ tôn thờ cái châm ngôn khoa học “càng đơn giản thì càng đẹp, càng đúng", đã mở màn cho một châm ngôn khoa học mới "càng phức hợp, càng hỗn độn thì càng hiện thức". Càng hiện thực bởi vì cái bị quy định theo tinh thần nhân quả máy móc đã nhường bước cho cái khả thể, cái tất yếu không còn một mình thống trị mà buộc phải chấp nhận có cả cái ngẫu nhiên. Khoa học hiện đại đã đặt đúng vấn đề: khoa học cổ điển đã sa vào một cuộc khủng hoảng nổi trội lên ở sự phi lý của lý trí thực nghiệm và từ đó xoá bỏ sự hiện diện của con người với tư cách là chủ thể quan sát trong quá trình nhận thức thực tại vật lý. Dường như khoa học hiện đại đang đứng tại chỗ dò những ngõ cụt và những nghịch lý cản đường.

    Nhà triết học người Đức Jaspers đã viết rằng: Cuộc khám phá vũ trụ cho ta thấy khoa học thực nghiệm chưa hoàn thành được công việc. Triết học phải tiếp tục công việc mà khoa học bỏ dở. Whitehead, nhà triết học Anh, nói rõ chỗ bỏ dở đó là khoa học nói chung không đi tới cùng những vấn đề mà nó nêu lên. Bởi vì, đến lúc mà những thử, sai kinh nghiệm không thực hiện được thì những vấn đề đó sẽ như rơi vào đám mây mù. Nhưng, theo ông, dũng cảm và có thể gọi là táo bạo nhất, bởi vì, bao giờ trong những điều kiện ít thuận lợi nhất, triết học học cũng tự mình đứng ra để trả lời những vấn đề lớn nhất của thời đại. Sự phát triển của khoa học hienẹ đại đang chứng minh điều khẳng định trên: nhà khoa học và nhà triết học đã, đang và sẽ đồng hàng với nhau trong sự tiến bước.

    Người ta nghĩ rằng nguyên lý bất định chỉ có thể áp dụng vào cái vô cùng nhỏ ở quy mô lượng tử, còn ở quy mô lớn thì có những quy luật tương ứng vững chắc như bê tông ngự trị. Nhưng, rõ ràng là trong những điều kiện nhất định, nguyên lý về hôn độn vẫn tồn tại ngay ở quỹ đạo của hành tinh. Chẳng hạn, một trong những vệ tinh của sao Mộc đi theo một quỹ đạo kỳ quặc, đến nỗi không sao đoán được trước hướng đi của nó trong ba ngày tới. Không phải vì các dụng cụ của chúng ta không thích hợp, không thể quan sát, nghiên cứu được nó, mà bản thân nó là một bất khả thể. Từ đó, người ta đi tới kết luận rằng đứng trước vũ trụ hỗn độn này, tuy ta không rời mắt khỏi những biển chỉ dẫn của tri thức khoa học, nhưng để định hướng trong cuộc sống ta cần đến những ngon đèn khác nữa.

    Thiên văn học hiện đại không thể không gợi nên những băn khoăn về ý nghĩa tột cùng của vũ trụ. Đây không còn là vấn đề của khoa học mà là của triết học. Thiên văn học, môn khoa học hình như đi tới gần cội nguồn của những điều bí ẩn của tồn tại, đi tới những miền mà vật lý học hầu như hoà lẫn vào siêu hình học.

    Ở phương Tây, cho đến nay người vẫn trung thành với định nghĩa của nhà khoa học, nhà triết học lớn Descartes về siêu hình học. Trong nhưng nguyên lý của triết học Descartes viết: "Toàn thể triết học như một cái cây mà rễ là siêu hình học, thân là hình nhi hạ học". Trước hết, đó là những sự vật như bản thể nói chung, nhất là Thượng đế, là những bản thể tinh thần được làm ra từ hình ảnh của Người (Bossuet), đó là toàn thể những tri thức do năng lực nhận thức a priori đưa lại (Kant), đó là tri thức trực giác của cái tuyệt đối và một cách ưu tiên của cái tinh thần (Bergson). Còn có thể kể tiếp nhiều ý tưởng tương tự. Tất cả các chân lý của siêu.hình họe, nói như Husserl, đều là cái bất biến, nói như J.P. Sartre, là cái vô bằng, nó là nguyên nhân của chính nó.

    Einstein đã nói một câu nổi tiếng về sự bất cập của chủ nghĩa duy lý: Điều khó hiểu nhất của thế giới là có thể hiểu được thế giới, có nghĩa là mặt phi lý nhất của thế giới là ở tính duy lý của nó. Cho nên, để thực hiện khoa học trong quan hệ con người - tự nhiên, không chỉ có sự tương hợp giữa tư duy, tức lý trí và tự nhiên, mà còn cần một nhân tố thứ ba - Einstein gọi đó là trực giác - với chức năng là hình thức nhận thức tức thời của con người trong sự hình thành những phát minh khoa học lớn.

    Người ta cho rằng chủ nghĩa quy giản ca tụng một thứ chủ nghĩa nhị nguyên tầm thường, sai lầm và tĩnh tại đã không biết, đã quên lãng nhân tố thứ ba này của sự nhận thức. Trực giác mà Einstein nói ở đây chính là sự tưởng tượng của con người vượt ra ngoài vòng cương tỏa của lý trí. Vậy, tính ưu tiên dành cho năng lực nào của nhận thức? Einstein khẳng định: "tưởng tượng quan trọng hơn tri thức". Nhà bác học về sinh học phân tử Fracois Jacob cho rằng trong công việc của nhà khoa học cũng như trong công việc của nhà nghệ sĩ, yếu tố tưởng tượng ít nhất lúc bắt đầu, rất giống nhau. Ông nói: "Co ngựa phi, con chim bay, con bọ chét nhảy. Còn chúng ta thì hoạt động với sức tưởng tượng của mình". I.Prigorine (giải thưởng Nobel về hoá học) cũng đề xướng chủ đề về “sự liên minh” giữa con người và vũ trụ. J.Monod (giải thưởng Nobel về y học) cũng góp phần vào vấn đề lớn chung đó. Xem xét lịch sử khoa học thì đặc trưng về tư duy nói trên ở nhà khoa học cũng không hoàn toàn là bất ngờ. Từ thời cổ đại, Aristote chả đã nói rằng “khoa học bắt đầu từ sự ngạc nhiên” hay sao?

    "Ngọn đèn" soi đường cho khoa học mà các nhà khoa học lớn truyền tay nhau đã được Tuyên bố Venise thắp sáng lên: “Sự gặp gỡ bất ngờ và bổ ích giữa khoa học với các truyền thống khác nhau trên thế giới cho phép ta nghĩ đến sự xuất hiện một cách nhìn về loài người, thậm chí một chủ nghĩa duy lý mới có thể dẫn đến một triển vọng siêu hình học mới". Theo Tuyên bố Venise, trong hoạt động khoa học trước đây, người ta đi theo một chủ nghĩa nhị nguyên đối lập khoa học và siêu hình học, chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa phi duy lý, vật chất và tinh thần... Ngày nay, chủ nghĩa nhị nguyên đó đã bị vượt qua, cho nên một chủ nghĩa duy lý mới, tính duy lý bội của khoa học, một siêu hình học mới đã xuất hiện. Khoa học ngày nay không phải là "tháp ngà" dành riêng cho chủ nghĩa duy lý: mọi tinh lực của con người đều cần có mặt ở đấy để góp một tiếng nói chung, để tranh luận về thế giới, để tìm những phương thế can thiệp vào thế giới ấy.

    Chủ nghĩa thực chứng chỉ sùng bái khoa học. Vì vậy, chủ nghĩa duy khoa học của nó đối lập với tất cả những gì có trước nó, khác nó mà nó gọi là truyền thống. Truyền thống là toàn bộ các học thuyết, các tập tục tôn giáo, tâm lý, đạo đức, là toàn bộ thông tin ít nhiều mang tính truyền thuyết liên quan tới quá khứ. Tóm lại, đó là toàn bộ những hiểu biết trong sự tiến hoá tinh thần của con người về vị trí, về mối quan hệ của con người trong các thế giới khác nhau. Toàn thể những hiểu biết ấy, mặc dù có những hình thức đa dạng trong giao lưu, và có những biến dạng do thời gian và lịch sử gây nên, nhưng nhìn chung là bền vững, bất biến và vĩnh cửu. Cho nên chúng mang tính siêu hình rõ ràng.

    Khoa học trước đây đối lập với truyền thống ít nhất ở mấy mặt sau đây:

    Khoa học dựa trên sự nhận thức thực tại qua trung gian lý tính, trí tuệ, kết cấu logic và toán học. Trái lại, truyền thống suy ngẫm, phát hiện, nhận biết trực tiếp về thực tại bằng thể xác, bằng bản năng, bằng cảm giác bằng niềm tin. Nó coi tư duy thân xác tế vi, cao hơn tư duy logic.

    Khoa học giả định rằng một tiền đề nào đó về sự tồn tại của một thực tại khách quan phải được chứng minh trong một không gian, thời gian xác định. Trái lại, truyền thống luôn khẳng định rằng thực tại không gắn với không thời gian. Vấn đề là chỉ cốt sao tìm được bản thể đích thực của đối tượng bằng việc hoà nó vào một thực tại duy nhất, bao hàm tất cả.

    Khoa học thực hiện thí nghiệm. Thí nghiệm đó được truyền đạt và được lặp lại, được xác định một cách khách quan và ở mức tối đa. Thí nghiệm là quan toà tối cao của khoa học. Trái lại, trong rất nhiều trưởng hợp, truyền thống không thể truyền đạt bằng ngôn ngữ tự nhiên, nó là “vô ngôn". Thí nghiệm của truyền thống là duy nhất, là triệt để vượt qua những phạm trù logic thông thường.

    Khoa học quan tâm chủ yếu đến hiệu quả ở mức cao nhất, trên phương diện tính vật chất trực tiếp, nhằm dẫn tới những phát minh. Trái lại, truyền thống có quyền không tính tới hiệu quả đối với tính vật chất không gian - thời gian, tính vật chất trực tiếp của quan sát.

    Tóm lại, khoa học hiện đại vẫn khác với truyền thống về bản chất, cả về phương điện huy động và về mục đích. Chúng như hai cực của một mâu thuẫn, hai cái nan hoa của một bánh xe. Tuy khác nhau, nhưng chúng luôn luôn hướng về một tâm: đó là con người và sự tiến hóa của con người. Đây là nguyên lý về sự cần thiết đối với truyền thống của khoa học hiện đại.

    Thế giới ngày nay hiện ra như một tấm thảm rộng mênh mông làm bằng nhiều mảnh bị tung toé ra, không sao ghép lại một cách khoa học được,- điều không giống như người ta nghĩ trước đây. Đầu thế kỷ chúng ta, khoa học đi chậm lại vì đường đi trước mắt không còn tỏ tường. Triết học đã làm cho con đường đó sáng lên. Khoa học đã nhìn thấy gốc của mình ở siêu hình học và từ đó nó vươn vai đứng lên mạnh mẽ như ngày hôm nay. Và bây giờ, đến lượt nó, nó lại chứng minh cho triết học theo nguyên lý của lý thuyết phức hợp rằng tư duy lý trí và tư duy không lý trí, hoạt động của tư duy khoa học và của tư duy siêu hình học vừa có sự phân biệt, vừa có sự liên kết không tách rời.

    Để làm rõ ý tưởng này, chúng tôi xin đề cập tới phát minh khoa học của Roger Sperry về chức năng cao cấp của não - phát minh đã đưa lại cho ông giải thưởng Nobel về sinh lý và y học. Trước khi có phát minh này, nhà thần kinh học người Pháp Pierre Paul Broca đã chứng minh rằng vùng tiếng nói nằm ở bán cầu trái của não. Còn nhà sinh lý học người Nga Paplov cho rằng ở nhà nghệ sĩ thì trội ở bán cầu phải - bán cầu mang tính tổng thể, còn ở nhà tư tưởng thì trội ở bán cẩu trái - bán cầu có tính phân tích. Roger Sperry đã đề xướng một lý thuyết chặt chẽ về chức năng riêng của từng bán cầu. Hoạt động của bán cầu trái mang tính phân tích, trình tự duy lý. Hoạt động của bán cầu phải mạng tính tổng hợp, tổng thể , trực giác. Ông khẳng định rằng não chỉ đạt tới mức hoạt động cao nhất khi có sự hợp tác các chức năng giữa hai bán cầu.

    Như vậy, trong sinh lý học chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa phi duy lý, khoa học và siêu hình học không còn chỉ là những tư biện, những điều bày đặt của nhà triết học, mà đã có những chứng cứ mạnh mẽ. Vấn đề lớn nhất đặt ra cho triết học là trong não người không phải chức năng này tiêu diệt chức năng kia, mà là cùng hợp tác để tạo nên con người.

    Gắn khoa học với siêu hình học, khoa học hiện đại đã đặt con người vào trung tâm của quá trình nhận thức thực tại. Con người không phải là khách thể mà là chủ thể quan sát thực tại đó. Phải chăng đây là một dấu hiệu khẳng định sự đúng đắn của dự báo nổi tiếng của Mác: "Khoa học tự nhiên sẽ bao gồm khoa học về con người, cũng như khoa học về con người sẽ bao gồm khoa học tự nhiên, và đó sẽ là một khoa học".

    Sự phân ngành khoa học không bao giờ chấm dứt mà ngày càng mạnh mẽ hơn, cho nên không bao giờ khoa học trở thành một. Khoa học tự nhiên hiện đại đi theo chiều “một khoa học" là ở chỗ, nó đón nhận, thừa nhận địa vị con người, nói như Jacques Monod, phải có "đạo đức học của nhận thức", nhận thức khoa học phải mang giá trị do con người đưa lại, và như vậy nó bỏ lại phía sau chủ nghĩa duy khoa học để trở thành văn hoá khoa học. Khoa học thiếu sự hiện điện của con người, khoa học không có sự đối thoại với triết học là khoa học chết, khoa học chưa phải là văn hoá.

    Từ giữa thế kỷ, triết học về khoa học càng ngày càng mang tính chống thực chứng, đáng lưu ý nhất là ở Mỹ, nước sớm đi vào xã hội hậu công nghiệp. Chủ nghĩa thực chứng mới nhất là trường phái Vienna - trường phái theo đuổi "chương trình thủ tiêu triết học", tuyên bố "triết học đã chết", chỉ thừa nhận mệnh đề khoa học, còn mệnh đề siêu hình học là không có nghĩa. Các nhà triết học về khoa học hậu thực chứng đòi phục hồi lại siêu hình học, đòi xây dựng lại bản thể học mới. K.Popper bác bỏ chủ nghĩa duy kinh nghiệm thực chứng chủ nghĩa, coi phương pháp quy nạp trong khoa học là đáng nghi ngờ. Popper cùng chia sẻ với G.Bachelard, đề xướng ý tưởng cho rằng sự tưởng tượng là bí quyết của sự thành công khoa học. Đi mạnh mẽ nhất theo bảng chỉ đường của siêu hình học, của triết học là triết học phân tích thực dụng và trường phái lịch sử ở Mỹ - trường phái gây tiếng vang lớn trong giới khoa học thế giới hiện đại. Điểm nổi bật của các trường phái triết học khoa học ở Mỹ là từ bỏ cái thế đứng ngoài để mô tả "sự tăng trưởng của tri thức". Sự tăng trưởng của tri thức đó chỉ có thể có được, nếu nó không rời bỏ gốc rễ của nó là siêu hình học, nếu những nhân tố giá trị không bao giờ vắng mặt trong hoạt động khoa học.

    Để giải được “vấn đề” đầy ngạc nhiên của khoa học, K.Poppêr đã huy động chú giải học để khơi dậy sự tưởng tượng, nhằm dẫn tới lý thuyết khoa học. Cũng từ chú giải học Richard Rorty coi "đàm thoại" (conversation) là hoạt động phổ biến của con người để tìm chân lý: chân lý không hề có săn bới vì con người không có mục tiêu nào khác ngoài chính bản thân mình.

    Nếu Popper cho chỉ có siêu hình học mới đóng được vai trò phác thảo đầu tiên của lý thuyết khoa học, thì Lakatos coi siêu hình học là "hạt nhân rắn", tức những nguyên lý bất biến không thể bị bác bỏ trong khoa học. T.Kuhn đã đưa siêu hình học vào hệ chuẩn và đã lý giải mối quan hệ "hệ chuẩn - xã hội khoa học" (paradiglne socxiété scientifique) theo chủ nghĩa phi duy lý và chủ nghĩa chống trí tuệ. ông cho rằng niềm tin của "xã hội khoa học" là nhân tố quyết định sự chuyến hóa từ hệ chuẩn này sang hệ chuẩn kia. Peyerabend là người đẩy chủ nghĩa phi duy lý đến đỉnh cao. Ông cho rằng trong khoa học không thể chỉ có cái lý tính mà còn có cái ',lỏng lẻo", "cái hỗn độn" của cái phi lý tính theo nguyên tắc "thế nào cũng được", tức chủ nghĩa đa nguyên trong khoa học.

    Trong trường phái lịch sử Mỹ, Wartofski là người tích cực nhất trong việc phục hồi siêu hình học để phát triển khoa học. Ông đặc biệt kế thừa phạm trù lương tri trong siêu hình học của triết học cổ điển đó là năng lực phân biệt cái đúng, cái sai, (thật, giả) - những cái tồn tại một cách tự nhiên, ngang nhau ở mọi con người. Từ đó, ông làm rõ nhiều chức năng của siêu hình học trong khoa học: gợi mở cho khoa học, xây dựng các mô hình cơ bản của nhận thức khoa học, phê phán các luận cứ cơ bán của khoa học... Nước Mỹ hiện nay có một nền khoa học phát triển nhất thế giới. Điều đó không thể không biết tới sự đóng góp của các nhà triết học về khoa học - những người cũng đi đầu trong việc khẳng định nhân tố con người trong nhận thức khoa học.

    Khoa học hiện đại, nói như Jaspers, nhờ “sự làm việc" của triết học mà gốc là siêu hình học, đã vượt lên những bế tắc để phát triển mạnh mẽ như ngày nay. Không chỉ khoa học tự nhiên mà cả khoa học xã hội cũng đã nhờ cái lực đẩy đó mà trở thành khoa học nhân văn, khoa học con người. Khoa học nhân văn chỉ có thể xuất hiện cùng lúc khi triết học về con người đã phát triển tới đỉnh cao. Đó là một cuộc cách mạng trong nền văn hoá của loài người khi bước vào thế giới hiện đại. Giờ đây, khi khoa học hiện đại được triết học khơi nguồn thì chủ nghĩa trung tâm xã hội phải lùi bước và "chủ nghĩa trung tâm cái tôi" phải được thay bằng quan niệm coi con người là trung tâm thực tại, con người là chủ thể để nhận thức thực tại. Chủ nghĩa kỹ trị phải được thay thế bằng chủ nghĩa nhân trị (anthro pocratime). Không chỉ có "văn học là nhân học", mà tất cả các khoa học xã hội, kể cả các bộ môn lấy xã hội làm trung tâm như xã hội học, kinh tế... cũng đều trở thành khoa học nhân văn, một khi chúng gắn hữu cơ với triết học con người.

    "Một khoa học" không phải ở chỗ "văn hoá khoa học" và "văn hoá nhân văn" "thâm nhập vào nhau”. Sự phân ngành khoa học là vô tận. Khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn trở thành một khoa học vì chúng đã làm đảo lộn "trường" của những cái vì sao do triết học đưa lại. Các khoa học - khoa học tự nhiên, khoa học nhân văn - đối thoại với nhau trong những câu hỏi rối như tơ vò mà E.Morin gọi là tính phức hợp. ông miêu tả bằng cách thêm một ý tưởng vào định nghĩa của Des- cartes: Triết học như là một cái cây, rễ là siêu hình học, thân là hình nhi hạ học và những cành mọc ra từ đó là các khoa học khác.

    Theo Tạp chí Triết học </span>
  10. kid_danh New Member

    Số bài viết: 9
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    học mấy môn này là cần thiết đấy chư, nhưng có lẽ nên giảm thời gian học lại và tránh chuyện học thuiộc đi nhỉ
  11. peace Guest

    Số bài viết: 0
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Ôi, bài viết của truongthinhs thật hay,...
    Xin cám ơn.

    Các bác khác nói không đủ trình độ hiểu Triết và vận dụng Triêt , thế các bác còn nợ Triết à? [IMG]

    PEACE
  12. truongthinhs Giảng Viên

    Số bài viết: 533
    Đã được thích: 3
    Điểm thành tích: 0
    Ôi bạn đừng nói vậy, mình đâu đủ trình độ viết cao tới cở đó, trình độ chính trị mình mới trung cấp thôi. Nhưng mình khá thích triết và chính trị, mặc dù mình là dân kỹ thuật ham mê nghiên cứu không thích làm công tác chính trị. Ngoài triết học thì mình có sở thích đọc các lý luận hay sách chuyên đề triết học nhưng đọc để khám phá thế giới thôi, không có tham vọng gì đâu. Mình nghe các bạn mình ở một số cơ quan thông tấn báo đài than phiền rằng sinh viên hiện nay thích coi truyện tranh hơn truyện chữ, không hề đam mê văn hóa đọc ngoài đọc báo, không biết tình hình xã hội và kinh tế (không biết đúng hay sai). Nói chi tới triết học và chính trị, nhưng các bạn nếu đọc các bạn sẽ khám phá rất nhiều điều hay và bộ ích. Mình thích các lý giải của các nhà Triết học về thế giới xung quanh này.
  13. raitk Member

    Số bài viết: 178
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 16
    Để biết môn triết học có cần thiết hay không, chúng ta cũng cần nên phân tích về môn này. Triết học chia ra làm nhiều quan điểm như ngày nay đại diện là 2 tư tưởng lớn : triết học Mác - Lênin và triết học Tư Bản Chủ Nghĩ, ngoài ra còn có nhiều quan điểm triết học khác nữa. Vì chúng ta theo Chủ Nghĩa Xã Hội nên việc chủ yếu là nghiên cứu triết học Mác - Lênin. Mác - Lênin nghiên cứu triết học dựa trên những phân tích và nghiên cứu về sinh hoạt xã hội, chủ yếu là xoáy vào tư tưởng. Còn triết học Tư Bản thì lại xoáy vào vấn đề kinh tế, nghiên cứu qui luật vận chuyển tiền- hàng. Chúng ta là sinh viên, tuổi đời còn ít nên cũng ít quan tâm đến vấn đề chính trị, chủ yếu là làm sao để kiếm ra tiên để nuôi sống bản thân nên đôi khi cũng hơi nhàm chán với triết học Mác Lênin.

    Ngoài ra, mỗi tư tưởng này còn chia ra nhiều trường phái, mỗi trường phái lại có 1 lý luận riêng v.v...
    Như trong trường chúng ta học đầu tiên là Triết học Mác- Lênin rồi đến Tư Tưởng HỒ CHÍ MINH rồi Kinh Tế Chính Trị v.v.. tất cả đều được hình thành dựa trên quan điểm của Mác-Lênin. Còn các sinh viên nước ngoài thì học triết nhưng theo tư tưởng của Tư Bản. Nhưng nếu nghiên cứu kỹ, tìm hiểu kỹ nguồn gốc thì chắc là chúng ta cũng thích môn triết học này. Bởi nó giải thích, lý giải các qui luật, hiện tượng, nêu ra các lý luận từ thực tiễn v.v...

    Vì thời lượng chương trình không nhiều nên giáo viên cũng không thể dẫn chứng ra những ví dụ sinh động cụ thể, và vì chúng ta còn ít quan tâm đến nên đôi khi nghe chúng ta sẽ cảm thấy nhàm chán.
    Ngay cả mình cũng vậy, có những bài, những phần thấy cũng rất hay, nhưng bên cạnh đó cũng có những phần rất nhàm chán, chủ yếu học để đối phó là nhiều. Nhưng nếu bạn có ý muốn làm việc ở trong bộ máy nhà nước ta thì đây là những thứ không thể bỏ qua được
  14. HiepKhachHanh Member

    Số bài viết: 507
    Đã được thích: 1
    Điểm thành tích: 18
    Em rất thích chính trị . Đáng lẽ là theo nghiệp CA rồi đấy chứ [IMG] . Nhưng giữa Triết và chính trị có giống nhau ko ?
  15. spkt4rum Guest

    Số bài viết: 0
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
  16. xuanthanhspk Guest

    Số bài viết: 0
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    CÓ LẼ TRIẾT VÀ CHÍNH TRỊ , THEO MÌNH NGHĨ, LÀ MỐI QUAN HỆ KHÔNG THỂ TÁCH RỜI, KHÔNG THỂ CHỈ TỒN TẠI MỘT CÁI.
    TRIẾT HỌC LÀ NỀN TẢNG CỦA CHÍNH TRỊ, LÀ NHỮNG KIẾN THỨC, QUAN NIỆM CHUNG NHẤT MÀ MỖI CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ CHỌN CHO MÌNH MỘT TRIẾT HỌC MÀ THEO HỌ LÀ ĐỨNG.

    CHÍNH TRỊ DỰA VÀO NỀN TẢNG CỦA TRIẾT HỌC, MUỐN LÀM CHÍNH TRỊ PHẢI TÌM CHO MỘT THẾ GIỚI QUAN, DỰA VÀO ĐÓ ĐỂ LÀM THEO.

    MÀ TRIẾT HỌC LÀ KIẾN THỨC KHOA HỌC CHUNG CÒN CHÍNH TRỊ LÀ SỰ VẬN DỤNG TRIẾT HỌC ĐÓ THEO TÌNH HÌNH CỤ THỂ CỦA MỖI NƯỚC.
  17. thuy_thach Guest

    Số bài viết: 0
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    [IMG] thật ra với một sinh viên là dân KHXH như Thủy Thạch thật sự cũng cảm thấy Triết là một môn khó học. một khi bạn đã thích thì bạn sẽ hiểu và thấy rất nhiều vấn đề được giải thích và liên quan tới Triết học. nhưng nếu bạn đã không thích rồi thì... thật sự là pó tay. [IMG]
    theo Thủy Thạch thì cần có giáo trình và phương pháp dạy khác nhau cho sinh viên ngành KhXH và Sv Kỹ thuật. chứ nếu áp dụng y chang cách dạy cho sinh viên cả hai ngành như vậy là không thỏa đáng. Thủy Thạch cũng rất hoan nghênh cách đăng ký học môn Triết như Cocacola ý kiến. như vậy sẽ tạo được sự chủ động cho sinh viên và sẽ có những người học thật sự chứ không học vì điểm số.
    tại sao không đưa môn học "cơ sở văn hóa Việt Nam" thành môn học trong chương trình đại cương cho sinh viên ngành Kỹ thuật, để sv chúng ta biêt nhiều về văn hóa Việt Nam. mà lại dạy môn triết khó hiểu và khó áp dụng trong thực tế???
  18. comeofage New Member

    Số bài viết: 65
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    lí do đơn giản chỉ bởi vì nước ta là nước xã hội chủ nghĩa, mà cái nhà nước này do triết học quyết định tất cả, triết học cũng ko quá khô khan đâu anh em ơi, vấn đề là ở chỗ ai dạy chúng ta và chúng ta có muốn tiếp thu hay mà không thôi, cho một ví dụ đơn giản: mình chưa bao giờ học qua pascan nên thấy nó khô khan, khó học và chẳng cần thiết lắm nhưng với những người đam mê về tin học thì ngược lại, với triết cũng vậy, mọi người đang học nhưng dường như tư tưởng chủ đạo là đi học cho có, cảm thấy chán trong khi thật ra chẳng nghe thầy giảng cái j mà chỉ cắm đầu cắm cổ chép thì hỏi sao ko buồn ngủ cho được, chúng ta học triết, tư tưởng chúng ta ổn định, nhân cách được hình thành, chúng ta không thể so sánh chúng ta với bclinton, bush, họ quyền cao chức trọng nhưng trong đầu chỉ toàn là tiền và chiếm đoạt thế giới, đánh nhau, chúng ta học triết vì chỗ đó, giả sử như chúng ta không học triết, chính trị kém, mưu lược hèn thì chúng ta đã mất nước, mọi người nghĩ đất nước chúng ta hiện đang yên ôn sao, bạn có thể hỏi câu hỏi này với thầy dạy triết, mọi người sẽ hiểu vì sao chúng ta giữ được hòa bình đến giây phút này, nếu bush mà làm thủ tướng nước việt nam thì có thể trên tay chúng ta đang là cây súng, kẻ chù chúng ta có thể là campuchia, mỹ hay bất kì nước khác
  19. thuy_thach Guest

    Số bài viết: 0
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    ---> <span style="color:#3366FF">Những phần còn lại trong bài viếtcủa "thanhnhan" thì mình đồng ý nhưng còn một chút thắc mắc là tại sao lại có thể nói là </span> "<span style="color:#FF6666">lí do đơn giản chỉ bởi vì nước ta là nước xã hội chủ nghĩa, mà cái nhà nước này do triết học quyết định tất cả". </span> [IMG] <span style="color:#3366FF"> chúng ta không thể nói vậy. đúng là có ảnh hưởng chứ không phải là quyết định tất cả. theo Thủy Thạch thì chúng ta không nên bàn đến vấn đề chính trị, nhà nước thế này thế kia mà chỉ nên bàn đến cách học và phương pháp học như thế nào cho đàn em mới tiếp cận với môn Triết và các anh /chị nào thi tốt nghiệp môn Triết học bài tốt hơn thôi!
    ví dụ như phương pháp"làm "xương sườn" cho nội dung bài chẳng hạn - tức là những ý lớn, những "từ khóa" , rồi sao đó "đắp thịt da" vào cho "xương sườn". mỗi vấn đề, chân lý kiếm một cái ví dụ gần gũi cho dễ hiểu, dễ nhớ có thể liên quan đến tình yêu (--> cái này có rất nhiều cái có thể giải thích , hoặc chúng minh được bằng triết ), cuộc sống.... [IMG]
    chút ý tưởng như vậy, hy vọng giúp được mọi người ....</span>
  20. HiepKhachHanh Member

    Số bài viết: 507
    Đã được thích: 1
    Điểm thành tích: 18
  21. sos_sos Guest

    Số bài viết: 0
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Nếu ai được học thầy Minh thì các bạn sẽ nghĩ khác về TH, thầy không điểm danh nhưng lớp lúc nào cũng đông nghẹt. Điều đó chứng tỏ là TH không phải là môn học nhàm chán.
  22. cuibap1989 Guest

    Số bài viết: 0
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
  23. robot9 New Member

    Số bài viết: 64
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    theo mình triết học cực hay
    đọc sách nắm các quy luật trong đó. Thử ngẫm nghĩ vận dụng nó vào cuộc sống hàng ngày, ta sẽ thấy sẽ hiểu nhiều điều mà trước giờ không thấy, không hiểu
    với lại đây cũng là cơ sỡ vừng chắc cho lập luận
  24. lovelove1912 New Member

    Số bài viết: 341
    Đã được thích: 2
    Điểm thành tích: 0
    Học mà không hiểu gì thì không biết học để làm gì? Môn Mác Lênin chắc thi lại học lại cũng nhiều lắm (thu tiền đã luôn =)) ).
    Theo sự suy luận của bà cô dạy môn Triết ( vô 1 buổi đầu năm nên hok biết tên) thì nguyên nhân chúng ta phải học môn Triết bắt nguồn từ Bác Hồ và Đảng Cộng sản . Do đó nếu ai phản đối môn Triết tức là chống lại Bác Hồ và ĐCS => Phản động => Bỏ tù :)).
  25. quanghuy New Member

    Số bài viết: 56
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Re: TRIẾT HỌC MÔN HỌC CẦN THIẾT HAY KHÔNG?

    Nếu u đc học thầy Tạ Minh thì chắc sẽ ko đưa ra lời nói này đâu :). Tui đã

    từng học 5 tiết triết từ tiết 8-->12, vẫn hấp dẫn như thường :)):)):))
  26. chanhvan08 New Member

    Số bài viết: 384
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Mình thấy học triết rất hay! Năm ngoái học TS. Nguyễn Thị Hiền Oanh, cô dạy hay, lí luận cũng được nhưng có điều hơi nghiêm quá, cái cốt yếu vẫn là ở người học, nếu thấy hứng thú thì họ sẽ chăm chú nghe thôi! Có học bù TS. Tân của học viện hành chính, dạy cực kì hay, học liền 5 tiết mà vẫn muốn nghe thêm! Vậy đó, mình xin được chia sẻ vài lời!
  27. vanvu New Member

    Số bài viết: 3
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
  28. Dê con New Member

    Số bài viết: 1,272
    Đã được thích: 1
    Điểm thành tích: 0
    Re: TRIẾT HỌC MÔN HỌC CẦN THIẾT HAY KHÔNG?

    Triết học có cần thiết ko? Xin trả lời, đó là rất cần thiết. Bởi vì, triết học là khoa học của mọi khoa học. Nó cho phép con người tư duy, định hướng về thế giới. Là ngọn đèn soi sáng cho mọi lĩnh vực khác. Cho phép ta nhảy vọt tư duy về những kiến thức mà khoa học hiện đại chưa có. Nói chung, triết học là rất cần thiết^^.

    Nhưng tại sao cần thiết mà nhiều người lại ghét nhỉ?:-/. Bởi vì những thứ ta học ko thuần chất là triết, mà còn có cả về chính trị và tư tưởng nữa. Với lại cách giảng bài chưa được sáng tạo lắm. Sao lại ko khai thác cái thú vị của triết cho sinh viên lên thuyết trình... Nói chung là vì nhiều nhiều lý do^^.
  29. tranvu136 New Member

    Số bài viết: 257
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Re: TRIẾT HỌC MÔN HỌC CẦN THIẾT HAY KHÔNG?

    Đơn giản là tại người giảng ... Còn lồng ghép chính trị là điều cần thiết ... Có thầy giảng rất hay và cuốn hút .
  30. Cesc Fabregas' fan New Member

    Số bài viết: 3
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Re: TRIẾT HỌC MÔN HỌC CẦN THIẾT HAY KHÔNG?

    bạn đang quá xem nhẹ lời nói của mình đấy!cần suy nghĩ kĩ và biết chọn lọc lời nói trước khi phát biểu!!!
  31. [CKĐ]Espresso New Member

    Số bài viết: 1,019
    Đã được thích: 1
    Điểm thành tích: 0
    Re: TRIẾT HỌC MÔN HỌC CẦN THIẾT HAY KHÔNG?

    Học có 5 tiết đương nhiên là vẫn hấp dẫn rồi,mình hồi trước học cả 6 tiết nên học oải kinh luôn.
  32. pinguchipchip New Member

    Số bài viết: 11
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Theo mình, môn Triết rất hay nếu bạn chịu khó tìm hiểu nó, bạn sẽ thấy nó có thể áp dụng cho chính bản thân trong đời sống, chứ không nhàm chán đâu bạn ạ. Bạn nào nói rằng nó nhàm chán thi chỉ có thể là do bạn chưa thực sự hiểu bản chất môn này.
  33. SpiritHero New Member

    Số bài viết: 312
    Đã được thích: 1
    Điểm thành tích: 0
    Re: TRIẾT HỌC MÔN HỌC CẦN THIẾT HAY KHÔNG?

    Nói thì dễ chứ làm khó lắm bạn à ?? Triết ai mà cũng nắm được thì đi làm Chính trị được rồi đó. Thật ra mình cũng không thích Triết lắm, nói chính xác Triết chỉ toàn lý thuyết xuông, minh rất hate trường phái lý thuyết xuông. Nhưng học Triết cũng đâu có mệt mỏi gì, vừa học vừa được nghe kể chuyện, nghe VD minh họa cũng thấy vui vui, đa phần mọi người không thích Triết mấy chắc vì bài vở nhiều, học muốn nản. Nhưng mà thưa các bạn, Tây Đông Nam Bắc gì đã là bậc ĐH thì ai cũng phải học Triết, không chỉ mỗi VN mình học đâu, nên phải học để không thua gì tụi nó chớ...
    P/s: bổ sung 1 điều là học Triết rất tốn tiền , đề nợ thì khốn khổ với nó <--
  34. Xuân Hiếu Phạm Xuân Hiếu

    Số bài viết: 2,124
    Đã được thích: 2
    Điểm thành tích: 38
  35. nhincaigikucia New Member

    Số bài viết: 18
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 1
    Đối với mình thì môn nào cũng có ý nghĩa,cũng quan trọng hết nhưng các môn này có trả được hóa đơn cho mình không ?? Các thầy cô tâm lý đều là thạc sĩ,tiến sĩ chẳng lẽ không hiểu nỗi niềm này sao??
  36. Dê con New Member

    Số bài viết: 1,272
    Đã được thích: 1
    Điểm thành tích: 0
  37. t_tv205 New Member

    Số bài viết: 5
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
  38. rogion_ca New Member

    Số bài viết: 12
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    Re: TRIẾT HỌC MÔN HỌC CẦN THIẾT HAY KHÔNG?

    Theo mình thấy thì triết học rất hay,nhưng để đọc và tham khảo thì tốt hơn.Vì nó cũng chỉ là quan điểm riêng của một vài người,cho dù đó có là người tài hoặc nổi tiếng thì cũng chỉ là người.Mà mỗi người thì cần có quan điểm và suy nghĩ riêng của mình.Vì vậy mà học triết theo kiểu bắt buộc và áp đặt như hiện nay thì ko hay chút nào.Thậm chí còn khiến nhiều người ghét triết học,và làm giảm giá trị của môn này.Tóm lại là nên học triết ,nhưng dưới hình thức khác,như hình thức ngoại khóa chẳng hạn. (đây là suy nghĩ riêng của mình SV08)
  39. daotiensinh New Member

    Số bài viết: 61
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
  40. robot9 New Member

    Số bài viết: 64
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 0
    theo mình triết hay nhưng lại được học khi còn quá trẻ, chưa nếm mùi đời, đáng lẽ năm tư mới cho học mới phải
    với lại cách học áp đặt như bạn trên có nêu hoặc là cách giảng kiểu đọc y chang trong sách làm cho môn này nhàm chán. chứ ko thì ko tới nỗi

Chia sẻ trang này